Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ LỄ HỘI VÀ KHÁI QUÁT LỄ HỘI HOA LƯ 1. Những vấn đề chung về quản lý lễ hội 1. Nghiên cứu một số khái niệm 1. Di sản văn hóa phi vật thể “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [34, tr.
Căn cứ vào khái niệm nêu ra trên đây, lễ hội Hoa Lư được xác định là một loại hình DSVH phi vật thể, không gian văn hóa liên quan là xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình được lưu truyền từ đời này sang đời khác bằng trình diễn và các hình thức khác. Trong chương II, điều 5 của Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật DSVH quy định tiêu chí lựa chọn DSVH phi vật thể để đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia: 1/Có tính đại diện, thể hiện bản sắc của cộng đồng địa phương; 2/Phản ánh sự đa đạng văn hóa và sáng tạo của con người, được kế tục qua nhiều thế hệ; 3/Có khả năng nhằm phục hồi và tồn tại lâu dài; 4/Được cộng đồng đồng thuận, tự nguyện đề cử và cam kết bảo vệ. Căn cứ vào các tiêu chí đã nêu ra trong nghị định của chính phủ, lễ hội truyền thống cố đô Hoa Lư/lễ hội Hoa Lư đã được nhà nước ra quyết định số 4037/QĐ-BVHTTDL ngày 24/11/2014 công nhân là DSVH phi vật thể cấp quốc gia. Lễ hội Để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc cần có vấn đề kế thừa DSVH cả vật thể và phi vật thể của các thế 18 hệ tiền nhân để lại.
Trong các thành tố của DSVH, lễ hội là một thành tố chứa đựng nhiều yếu tố nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ đến đời sống cộng đồng, có sức lan tỏa trong xã hội đương đại. Bởi vậy, trong nghiên cứu lễ hội cổ truyền của người Việt luôn là một công việc quan trọng trong công tác nghiên cứu văn hóa. Về phương diện lý thuyết đã có nhiều nghiên cứu đưa ra các khái niệm để diễn giải sâu sắc hơn về lễ hội. Theo tác giả Ngô Đức Thịnh: Lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh và diễn giải: Tính tổng thể của lễ hội không phải là thực thể chia đôi (Phần lễ và phần hội), một cách tách biệt như một số tác giả quan niệm, mà nó được hình thành trên cơ sở một cốt lõi nghi lễ tín ngưỡng nào đó (thường là tôn thờ một vị thần linh lịch sử hay một vị thần linh nghề nghiệp nào đó) và từ đó nảy sinh rồi tích hợp các hiện tượng sinh hoạt văn hóa phát sinh để tạo nên một tổng thể lễ hội.
Cho nên trong lễ hội, phần lễ chính là phần gốc rễ, chủ đạo, phần hội là phần phát sinh tích hợp [43, tr. Lễ hội Việt Nam trong sự phát triển du lịch, tác giả Dương Văn Sáu cho rằng: “Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra trên một địa bàn dân cư trong thời gian và không gian xác định; nhằm nhắc lại một số sự kiện, nhân vật lịch sử hay huyền thoại; đồng thời là dịp biểu hiện cách ứng xử văn hóa của con người với thiên nhiên - thần thánh và con người với xã hội” [38, tr. Trong Quản lý lễ hội và sự kiện Cao Đức Hải đưa ra: “Lễ hội là tổ hợp các yếu tố và hoạt động văn hóa đặc trưng của cộng đồng, xoay xung quanh một trục ý nghĩa nào đó nhằm tôn vinh và quảng bá cho những giá trị nhất định” [19, tr. Từ điển Tiếng Việt đưa ra khái niệm về lễ hội: Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện.
Hội là sinh hoạt văn hóa, 19 tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của của cộng đồng, sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc cho từng gia đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng. “Lễ hội là một hoạt động kỷ niệm định kỳ, biểu hiện thế giới quan của một nền văn hóa hay nhóm xã hội thông qua hành lễ, diễn xướng, nghi lễ và trò chơi truyền thống” [46, tr. Từ những khái niệm nêu ra trên đây, các tác giả đều tập trung diễn giải khái niệm lễ hội là một cặp phạm trù thống nhất, vì lễ hội là sự tập hợp một cộng đồng người nhất định để thực hiện những điều về lễ, hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn vinh của con người đối với thần linh. Trong dịp đó con người cầu xin thần linh phù hộ độ trì cho họ thực hiện được những ước mơ, những mong muốn trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Như vậy, lễ là một thuộc tính phổ biến trong mối quan hệ với thế lực siêu nhiên, siêu hình, với các thần linh. Hội thực ra phức tạp hơn rất nhiều bởi chữ hội không chỉ là trò chơi, trò diễn mà trong đó phản ánh một sự kiện, một bản chất của nhân vật tưởng niệm. Trong trường hợp như lễ hội Hoa Lư, tục diễn “Cờ lau tập trận” là phản ánh về tiểu sử của nhân vật được tôn thờ là Đinh Bộ Lĩnh lúc còn trẻ thường hay chơi trò “Cờ lau tập trận” với các bạn cùng trang lứa. Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa tổng hợp của con người diễn ra trong những chu kỳ về không gian và thời gian nhất định để tiến hành những nghi thức biểu trưng về sự kiện nhân vật được thờ cúng, là sinh hoạt văn hóa của một cộng đồng người mà chỉ trong lễ hội, mỗi người mới có dịp thăng hoa những phẩm chất, tài năng tốt đẹp của mình vào cái chung của ngày hội tạo ra ngày vui và sức lan tỏa của ngày hội.
Những khái niệm nêu ra trên đây là phù hợp thống nhất với trường hợp nghiên cứu lễ hội Hoa Lư. Lễ hội truyền thống Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, là sản phẩm tinh thần của người dân, được hình thành và phát triển trong quá trình 20 lịch sử. Người Việt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống uống nước nhớ nguồn, lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng, được định danh là các vị thần - Những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại [45, tr. Lễ hội truyền thống hay còn gọi là lễ hội dân gian là phần hữu cơ hết sức quan trọng của DSVH phi vật thể hợp thành kho tàng DSVH quý báu của dân tộc là nét đẹp văn hóa hình thành, bổ sung và phát triển cùng với lịch sử, văn hóa dân tộc, trở thành nhu cầu không thể thiếu của nhân dân nhằm thỏa mãn khát vọng về nguồn, nhu cầu văn hóa tâm linh, tăng cường giao lưu trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của từng không gian nhất định, góp phần tạo ra sự đa dạng văn hóa.
Từ bao đời nay, lễ hội dân gian/cổ truyền có sức sống lâu bền, âm ỷ mạnh mẽ, tương ứng và tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử văn hóa cùng với những điều kiện kinh tế, xã hội trong mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử. Liên quan đến lễ hội truyền thống còn có khái niệm lễ hội cổ truyền cùng với nội hàm gần như tương đương với nhau. “Khái niệm Lễ hội cổ truyền nhấn mạnh tính chất xưa, cũ, còn khái niệm Lễ hội truyền thống bao gồm cả những yếu tố thời kỳ cận đại. Có nhiều khái niệm khác nhau về lễ hội truyền thống tùy vào cách tiếp cận theo khía cạnh nào, phương thức nào” [33, tr.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu văn hóa đều cho rằng: Lễ hội truyền thống là những lễ hội hình thành trong dân gian, có từ lâu đời, tồn tại cho đến ngày nay hoặc được phục dựng lại. Một quan niệm cũng được nhiều người đồng tình là những lễ hội dân gian hình thành trước năm 1945 được gọi là lễ hội truyền thống. Có thể nói, lễ hội truyền thống là lễ hội được sáng tạo và lưu truyền theo phương thức dân gian, được hình thành trong các hình thái văn hóa lịch sử, được truyền lại trong các cộng đồng nông nghiệp với tư cách như một phong tục tập quán. Lễ hội truyền thống chính là lễ hội cổ đã có từ lâu đời, mang giá trị nhân văn, nhân đạo sâu sắc, có giá trị nghệ thuật riêng và được lưu truyền từ 21 thế hệ này sang thế hệ khác, giống như một quy luật của tự nhiên mà không làm biến đổi giá trị đầu tiên của nó.
Căn cứ vào nội hàm khái niệm và đặc điểm của lễ hội truyền thống, căn cứ vào các tiêu chí quy định DSVH phi vật thể quốc gia, lễ hội Hoa Lư đã đạt tiêu chí của một lễ hội truyền thống. Lễ hội này đã luôn được lưu truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác và quá trình đó được diễn ra theo quy luật và phong tục tập quán đã được quy định trong quá trình tồn tại lịch sử. Quản lý Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, hợp tác lao động.Mác đã viết: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà tiến hành trên quy mô khá lớn đều yêu cầu có sự chỉ đạo, điều hòa giữa những hoạt động cá nhân. Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [20, tr.
Theo Giáo trình Khoa học quản lý thì: “Quản lý là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình theo những quy luật, định luật hay những quy tắc tương ứng nhằm để cho hệ thống hay quá trình đó vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước” [20, tr.