CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ NÔNG NGHIỆP 1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ NÔNG NGHIỆP 1. Một số kh: Để làm rõ khái niệm quản lý nhà nước về nông nghiệp, trước hết luận văn nghiên cứu, tìm hiểu một số khái niệm: - Khái niệm về Nông nghiệp: Theo Từ điển Bách khoa toàn thư thé giới thì lông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất dai dé trong trọt và chăn nuôi, khai thác cây trông và vật nuôi làm tư liệu và nguyên éu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu để tạo ra lương thực, thực phẩm hoặc nguyên liệu cho ngành công nghiệp - Khai niệm Quản lý nhà nước: Theo Đỗ Hoàn Toàn (2005): “Quản jý nhà nước vẻ kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyên của Nhà nước lên nên kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguôn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, đề đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao Inu quốc tế”. [19, Trang 21] Theo Hoang S¥ Kim (2007), cho rằng: “Quản lý nhà nước về nông nghiệp là hoạt động sắp xép tổ chức, chỉ huy, điều hành, hướng dân, kiểm tra của hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương đối với lĩnh vực nông nghiệp trên cơ sở nhận thức vai trò, vị trí và đặc điểm kinh tế - kỹ thuật.
chuyên môn của ngành nông nghiệp để khai thác và sử dụng các nguôn lực trong và ngoài nước, nhằm đạt được mục tiêu xác định với hiệu quả cao nhất ”. [9, Trang 4] 13 Theo Vũ Đình Thắng (2005): “Quản lý nhà nước vẻ nông nghiệp là sự quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp thông qua các công cụ quy hoạch, kế hoạch, pháp luật và các chính sách để tạo tiền để, môi trường thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hướng tới mục tiêu chung của nên nông nghiệp; xử lý những việc ngoài khả năng giải quyết của đơn vị kinh tế trong quá trình hoạt động kinh tế trên tắt cả các lĩnh vực sản xuất, lưu thông, phân phối, tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp; thực hiện kiểm soát đối với tắt cả các hoạt động trong nền nông nghiệp, làm lành mạnh hóa mọi quan hệ kinh tế và xã hội. [21, Trang 304] Từ các quan niệm trên, luận văn đưa ra khái niệm QLNN vẻ nông nghiệp là một bộ phận trong quản lý nền kinh tế quốc dân, thể hiện sự tác động, có định hướng bằng quyền lực và thông qua bộ máy quản lý nhà nước; thực hiện bằng các biện pháp, công cụ quản lý nông nghiệp nhằm sử dụng, khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế để nông nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế, hiệu quả xã hội, sự vận hành phù hợp với các quy luật khách quan. Vai trò QLNN đối với nông nghiệp ~ Định hướng, bảo đảm môi trường thuận lợi và an ninh cho phát triển nông nghiệp.
Quản lý nhà nước về nông nghiệp có vai trò điều chỉnh bằng quyền lực pháp luật nhà nước nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong nội bộ ngành nông nghiệp, vừa điều chỉnh mối quan hệ giữa ngành nông nghiệp với các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, đó có thể là mối quan hệ tương hỗ nhưng cũng có thể là mối quan hệ kìm hãm, hạn chế lẫn nhau; cùng với trình độ xã hội hóa sản xuất hàng hóa ngày càng cao và hiện đại, giao thương ngày càng rộng mở, liên kết giữa các vùng miễn, các quố gia trên thế giới ngày càng mở rộng thì các mối quan hệ này càng phát triển và đa dạng, sự hình thành và phát triển các mối quan hệ này là tất yếu khách quan nhưng các mối 14 quan hệ này có thể là phù hợp hoặc chưa phù hợp, để giải quyết hài hòa lợi ích giữa các bên, cân bằng các mối quan hệ là vấn đề hết sức quan trọng trong, công tác quản lý nhằm huy động tối đa nguồn lực, vừa bổ sung khiếm khuyết, vừa điều chỉnh, hạn chế các bất cập để đạt mục tiêu cuối cùng là phát Vai trò điều chỉnh của nhà nước trong quản lý nhà nước về nông nghiệp có nhiều cách thức khác nhau, như: Nhà nước cần phân bổ nguồn lực, nguồn vốn giữa các vùng, miền, địa phương cho hợp lý, do sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố tự nhiên, như: quỳ đất, chất lượng đất canh tác, nguồn nước tưới, điều kiện khí hậu và nhiều điều kiện sinh thái khác; liên quan đến quyền sở hữu, quyền sử dụng tài nguyên như đất đai, vốn góp cổ phan. thi Nhà nước cần phải điều chỉnh sao cho sự phát triển đa dạng hóa các hình thức sở hữu ở các mức độ phù hợp; các loại quan hệ trong liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm, hợp tác trong nghiên cứu và đầu tư. thì Nhà nước ìn điều chỉnh tạo một môi trường thuận lợi bằng hành lang pháp lý cụ thể để các mối quan hệ này phát triển một cách hiệu quả Nền nông nghiệp hàng hoá trong cơ chế thị trường chỉ có thê phát triển ổn định trong môi trường kinh tế, chính trị - xã hội, đối ngoại én định và thuận lợi. Các quan hệ thị trường trong nông nghiệp muốn phát triển được phải trong môi trường ổn định, tuy nhiên với mặt trái của cơ chế thị trường sẽ tạo ra những yếu tố cản trợ sự phát của ngành nông nghiệp, cụ thể: Huy.
động và sử dụng nguồn lực không hợp lý do chạy theo lợi nhuận (như tình trạng phá bỏ cây lâm nghiệp lâu năm để chuyển sang trồng Keo lá tràm, phá rừng đề trồng cà phê ở Tây Nguyên .), nhằm tăng năng suất, đạt lợi nhuận tối đa dẫn đến hủy hoại môi trường (sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không an toàn); tình trạng lũng đoạn thị trường bằng việc buôn lậu, hàng giả, hàng kém chất lượng, không an toàn vệ sinh thực phẩm đối với cả vật tư hàng hoá đầu vào cho sản xuất và sản phẩm đầu ra làm ảnh hưởng tới cả người sản xuất và 15 người tiêu dùng nông sản, thực phẩm trong nước và xuất khẩu,. mặt trái của cơ chế thị trường nữa là dẫn đến phân hóa giàu nghèo, chênh lệch trình độ sản xuất giữa các vùng nông thôn có xu hướng ngày càng lớn. Ngoài ra còn rất tố liên quan đến môi trường cho phát triển nông nghiệp như diễn biến bất thường của thời tiết, các loại dịch bệnh, sự kém ồn định chính trị ở các vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới,. Vì vậy, để đảm bảo môi trường phát triển, phát huy hết những mặt thuận lợi, tích cực và hạn chế, khắc phục những.
mặt tiêu cực thì công tác QLNN về nông nghiệp phải can thiệp, bảo đảm môi trường thuận lợi và an ninh cho sự phát triền nông nghiệp. - Khắc phục được những khiếm khuyết do thị trường tạo ra trong quá trình phát triển. Nền nông nghiệp Việt Nam dựa trên sự đa dạng hình thức sở hữu và tương ứng với nhiều hình thức tổ chức sản xuất thì tất yếu nảy sinh sự quan tâm lợi ích giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các địa phương hay các vùng khác nhau trên lãnh thổ nông nghiệp cả nước; hoặc cũng có thể là ngành nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân. Trong khi theo đuổi những lợi ích riêng, các đối tượng nêu trên có thể không nhìn thấy lợi ích của đơn vị, của vùng hay của ngành khác, do đó tất yếu sẽ dẫn đến vi phạm lợi ích người khác; vì lợi ích hiện tại mà làm ảnh hưởng đến lợi ích trong tương lai.
Biểu hiện của xu hướng này là các hoạt động kinh tế chồng chéo không hiệu quả thậm chí triệt tiêu lẫn nhau, tình trạng khai thác bừa bãi đắt đai, tài nguyên và các nguồn lực khác. hậu quả của xu hướng này là phá vỡ cân đối cần thiết trong quá trình phát triển của nông nghiệp nói riêng và tất yếu nấy sinh các ổn về chính trị - xã hội ở nông thôn. Để khắc phục những nhược điểm nói trên, cần thiết có bộ phận điều hành vi mô bằng việc hoạch định các chương trình, kế hoạch phát triển liên quan đến từng vùng, miễn, địa phương, từng thành phần kinh tế; 16 mối quan hệ lợi ích trong quá trình phát triển bằng việc ban hành và việc thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp, ban hành và thực hiện các văn bản QPPL để xử phạt những đối tượng vi phạm khi tham gia vào các hoạt động kinh tế ở nông nghi Như vậy, nếu như không có sự QLNN thì không thể khắc phục được những khiếm khuyết do thị trường tạo ra trong quá trình phát triển nông nghiệp. ~ Đảm nhận những mặt, những khâu hoặc một số khâu trong lĩnh vực nông nghiệp bằng thực lực của nên kinh tế.
Nha nước với tư cách là công cụ thống trị của giai cấp, là một thể chế chính trị lại phải nắm lấy kinh tế, làm chức năng kinh tế để quản lý xã hội. Hơn nữa, kinh tế là nền tảng của đời sống xã hội, là cơ sở của hệ thống chính trị, cho nên Nhà nước càng phải làm chức năng kinh tế và quản lý kinh tế. Vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nông nghiệp không chỉ ở sự điều tiết, định hướng bằng pháp luật, bằng các cơ chế chính sách và bằng đòn bẩy kinh tế mà còn bằng chính thực lực của nền kinh tế. Ngành nông nghiệp cũng như các ngành khác trong nền kinh tế quốc.
dân đều chịu sự điều tiết của Nhà nước. Trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn, có nhiều ngành, lĩnh vực, nhiều hoạt động cơ bản mà các doanh nghiệp hay các tổ chức hoạt động kinh tế không được phép làm hoặc không làm được, đó là những hoạt động nhà nước không hoặc khó kiểm soát nhưng xã hội vẫn rất cần như sản xuất và lưu thông những sản phẩm có thể gây nguy hiểm cho xã hội, khai thác bừa bãi tài nguyên rừng, đặc biệt là các sản phẩm quý hiểm. Các hoạt động không làm được xuất phát từ nhiều lý do như: về phía các đơn vị, tổ chức kinh tế trong nông nghiệp (vì lý do chủ quan như non ý chí, kém tri thức, thiếu nguồn lực.) mà họ không thể hoặc chưa thể làm được như hoạt động đầu tư xây dung và khai thác các công trình hạ tầng thủy lợi ở nông thôn, đầu tư cải tạo đất bạc màu, hoang hóa.