Luận văn thạc sĩ: Quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu tại tỉnh Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu quản lý kinh tế quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh quảng nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

99
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý kinh doanh xăng dầu tại Quảng Nam

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế về quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam của tác giả Nguyễn Tấn Nhật (2020) cung cấp một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về một lĩnh vực kinh tế trọng yếu. Xăng dầu không chỉ là mặt hàng chiến lược, đầu vào thiết yếu cho sản xuất, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh quốc phòng và đời sống xã hội. Theo luận văn, chi phí xăng dầu chiếm tới 40% trong giá thành ngành vận tải và 3-15% trong ngành nông nghiệp, cho thấy tầm quan trọng không thể thiếu của nó. Công tác quản lý nhà nước về xăng dầu tại Quảng Nam, do đó, đóng vai trò then chốt trong việc bình ổn thị trường, đảm bảo an ninh năng lượng địa phương và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2015-2020, phân tích các khía cạnh cốt lõi như quy hoạch, cấp phép, và hoạt động thanh tra, kiểm tra. Thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xăng dầu, luận văn đã chỉ ra những thành tựu cũng như các tồn tại, bất cập cần khắc phục, tạo tiền đề vững chắc cho việc đề xuất các giải pháp mang tính thực tiễn cao.

1.1. Vai trò chiến lược của xăng dầu đối với kinh tế Quảng Nam

Xăng dầu là huyết mạch của nền kinh tế, là nguồn năng lượng chính cho hầu hết các hoạt động từ sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đến giao thông vận tải và sinh hoạt của người dân. Tại Quảng Nam, một tỉnh có địa bàn rộng, địa hình phức tạp với cả đồng bằng, trung du và miền núi, vai trò này càng trở nên quan trọng. Sự ổn định của thị trường xăng dầu tỉnh Quảng Nam là yếu tố quyết định đến tốc độ tăng trưởng GRDP, thu hút đầu tư và đảm bảo đời sống cho hơn 1,8 triệu dân. Bất kỳ sự biến động nào về giá cả hay nguồn cung đều có thể gây ra tác động đến kinh tế - xã hội trên diện rộng. Do đó, việc nghiên cứu các công cụ quản lý kinh tế của nhà nước đối với mặt hàng này là nhiệm vụ cấp thiết để duy trì sự phát triển bền vững.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ

Luận văn đặt ra mục tiêu tổng quát là khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn, từ đó phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh xăng dầu (KDXD) tại Quảng Nam. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong không gian địa lý của tỉnh, tập trung vào giai đoạn 2015-2020 và đưa ra định hướng đến năm 2025. Về nội dung, nghiên cứu xoáy sâu vào bốn mảng chính: công tác xây dựng và quản lý quy hoạch; ban hành và phổ biến pháp luật; cấp phép KDXD; và công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh xăng dầu. Đối tượng nghiên cứu là các hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước và sự tuân thủ của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn.

II. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về xăng dầu Quảng Nam

Việc đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về xăng dầu tại Quảng Nam giai đoạn 2015-2020 cho thấy nhiều bất cập tồn tại song song với những kết quả đạt được. Luận văn chỉ rõ, công tác quản lý các điều kiện kinh doanh còn bị buông lỏng, dẫn đến rủi ro về an toàn cháy nổ và chất lượng sản phẩm. Chính sách quy hoạch hệ thống cửa hàng xăng dầu chưa được quan tâm đúng mức, gây ra sự mất cân đối lớn: nơi quá dày đặc (đô thị), nơi lại quá thưa thớt (miền núi, vùng sâu), ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận năng lượng của người dân. Công tác tuyên truyền quy định pháp luật về kinh doanh xăng dầu còn chậm và chưa sâu rộng. Đặc biệt, hoạt động thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh xăng dầu chưa đồng bộ, sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như Sở Công Thương Quảng NamCục Quản lý thị trường Quảng Nam còn hạn chế. Mức xử lý vi phạm còn nhẹ, chưa đủ sức răn đe, dẫn đến tình trạng gian lận thương mại vẫn còn tồn tại.

2.1. Bất cập trong quy hoạch và cấp phép kinh doanh xăng dầu

Theo tài liệu nghiên cứu, dù đã có quy hoạch mạng lưới cửa hàng xăng dầu theo Quyết định 3464/QĐ-UBND, việc triển khai trên thực tế gặp nhiều vướng mắc. Nhiều vị trí quy hoạch không khả thi do khó khăn trong giải phóng mặt bằng hoặc không thu hút được nhà đầu tư. Ngược lại, một số khu vực phát sinh nhu cầu mới nhưng chưa được cập nhật quy hoạch kịp thời. Quy trình cấp phép còn tồn tại những quy định chưa cụ thể, gây khó khăn cho doanh nghiệp. Điều này cho thấy công tác quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam cần một cơ chế linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh quy hoạch và đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi.

2.2. Hạn chế trong công tác thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm

Công tác hậu kiểm là một điểm yếu lớn được chỉ ra. Luận văn cho thấy lực lượng thanh tra chuyên ngành còn mỏng so với địa bàn rộng lớn của tỉnh. Sự phối hợp giữa các đơn vị liên quan chưa chặt chẽ, đôi khi chồng chéo. Các hành vi vi phạm phổ biến là buôn lậu và gian lận thương mại xăng dầu, gian lận về đo lường, chất lượng không đảm bảo. Tuy nhiên, mức xử phạt hành chính theo thống kê giai đoạn 2015-2019 còn thấp, chưa tương xứng với lợi nhuận bất chính thu được, làm giảm tính hiệu quả của công tác quản lý và gây bức xúc trong dư luận.

III. Phương pháp hoàn thiện chính sách kinh doanh xăng dầu hiệu quả

Để giải quyết các tồn tại, luận văn đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước mang tính hệ thống. Trọng tâm là việc hoàn thiện cơ chế, chính sách kinh doanh xăng dầu sao cho phù hợp với thực tiễn địa phương và xu thế thị trường. Cần rà soát, điều chỉnh quy hoạch mạng lưới cửa hàng xăng dầu một cách khoa học, dựa trên phân tích nhu cầu thực tế và tiềm năng phát triển của từng khu vực, đặc biệt ưu tiên các vùng khó khăn. Song song đó, việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, công khai, minh bạch các quy định pháp luật về kinh doanh xăng dầu là cực kỳ quan trọng. Cần có cơ chế khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đầu tư vào công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ và đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, phòng cháy chữa cháy. Một chính sách hiệu quả phải cân bằng được lợi ích của nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng địa phương.

3.1. Tối ưu hóa quy hoạch và phát triển mạng lưới KDXD

Giải pháp cốt lõi là xây dựng một quy hoạch linh hoạt, có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch này phải tích hợp với các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch giao thông của tỉnh. Cần ứng dụng công nghệ thông tin và hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xác định các vị trí tiềm năng, đánh giá khoảng cách phục vụ và dự báo nhu cầu tiêu thụ. Việc công bố rộng rãi quy hoạch và danh mục các dự án kêu gọi đầu tư sẽ tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh, thu hút các doanh nghiệp có năng lực tham gia vào thị trường xăng dầu tỉnh Quảng Nam.

3.2. Điều chỉnh cơ chế quản lý giá xăng dầu tại địa phương

Mặc dù giá bán lẻ do liên Bộ Công Thương - Tài chính điều hành, chính quyền địa phương vẫn có thể tác động thông qua các công cụ quản lý khác. Luận văn đề xuất cần tăng cường giám sát việc niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết của các cửa hàng. Cục Quản lý thị trường Quảng Nam cần thiết lập đường dây nóng để người dân phản ánh các hành vi vi phạm về giá. Bên cạnh đó, cần có chính sách hỗ trợ chi phí vận chuyển cho các doanh nghiệp cung ứng xăng dầu tại các khu vực miền núi, hải đảo để đảm bảo giá bán không chênh lệch quá lớn so với đồng bằng, góp phần ổn định đời sống và sản xuất.

IV. Bí quyết nâng cao hiệu lực thanh tra kiểm tra hoạt động KDXD

Hiệu quả của quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh Quảng Nam phụ thuộc rất lớn vào công tác thanh tra, kiểm tra. Để nâng cao hiệu lực, cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp. Trước hết, phải tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ thanh tra, cả về chuyên môn nghiệp vụ và trang thiết bị kỹ thuật. Cần xây dựng và thực hiện kế hoạch thanh tra, kiểm tra định kỳ và đột xuất một cách khoa học, tập trung vào các địa bàn trọng điểm, các doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm. Quan trọng hơn cả là xây dựng một cơ chế phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa Sở Công Thương Quảng Nam, Cục Quản lý thị trường Quảng Nam, Công an, Thuế và các đơn vị liên quan. Việc chia sẻ thông tin, phối hợp hành động sẽ giúp ngăn chặn hiệu quả tình trạng buôn lậu và gian lận thương mại xăng dầu, đảm bảo một môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh.

4.1. Tăng cường vai trò của Sở Công Thương và Cục Quản lý thị trường

Luận văn nhấn mạnh vai trò của Sở Công Thương Quảng Nam là cơ quan tham mưu chính cho UBND tỉnh trong việc hoạch định chính sách và quản lý quy hoạch. Sở cần chủ động rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định cho phù hợp. Trong khi đó, Cục Quản lý thị trường Quảng Nam phải là lực lượng chủ công trên mặt trận chống hàng giả, hàng kém chất lượng và gian lận thương mại. Cần trao thêm thẩm quyền và nguồn lực để Cục có thể thực hiện các cuộc kiểm tra đột xuất, lấy mẫu xét nghiệm nhanh và xử lý nghiêm các vi phạm, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

4.2. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và giám sát cộng đồng

Một giải pháp đột phá là thiết lập quy chế phối hợp liên ngành chính thức, có phân công trách nhiệm rõ ràng cho từng đơn vị. Các đợt kiểm tra nên được tổ chức dưới dạng đoàn liên ngành để tránh chồng chéo và tăng tính khách quan. Ngoài ra, cần phát huy vai trò giám sát của cộng đồng. Việc công khai kết quả xử lý vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng và khuyến khích người dân tố giác các hành vi sai phạm sẽ tạo ra áp lực xã hội, buộc các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật.

V. Hướng đến tương lai thị trường xăng dầu Quảng Nam bền vững

Việc áp dụng các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước được đề xuất trong luận văn sẽ mở ra một chương mới cho thị trường xăng dầu tỉnh Quảng Nam. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một thị trường phát triển ổn định, minh bạch và hiệu quả, đáp ứng đầy đủ nhu cầu năng lượng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời đảm bảo an ninh năng lượng địa phương trong dài hạn. Quá trình này đòi hỏi sự quyết tâm chính trị của lãnh đạo tỉnh, sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan chức năng và sự hợp tác tích cực từ cộng đồng doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu. Việc chuyển đổi sang các loại nhiên liệu sạch, thân thiện với môi trường như xăng sinh học E5 cũng là một định hướng quan trọng cần được khuyến khích. Một hệ thống quản lý hiện đại, hiệu quả không chỉ giúp bình ổn thị trường mà còn góp phần cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh Quảng Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế.

5.1. Lộ trình triển khai và đánh giá hiệu quả các giải pháp

Việc triển khai các giải pháp cần được thực hiện theo một lộ trình cụ thể, chia thành các giai đoạn ngắn hạn (1-2 năm) và dài hạn (3-5 năm). Trong ngắn hạn, ưu tiên hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy, tăng cường thanh tra, xử lý dứt điểm các vi phạm nổi cộm. Giai đoạn dài hạn tập trung vào việc điều chỉnh quy hoạch, đầu tư cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực quản lý. Cần xây dựng bộ chỉ số đánh giá (KPIs) để đo lường hiệu quả của công tác quản lý, ví dụ như: số vụ vi phạm giảm, mức độ hài lòng của người dân và doanh nghiệp, sự ổn định của nguồn cung...

5.2. Kiến nghị chính sách đảm bảo an ninh năng lượng địa phương

Để đảm bảo an ninh năng lượng địa phương, luận văn kiến nghị UBND tỉnh cần có chính sách khuyến khích xây dựng các kho dự trữ xăng dầu quy mô vừa và nhỏ trên địa bàn, đặc biệt tại các khu vực chiến lược. Đồng thời, cần có phương án ứng phó với các tình huống khủng hoảng nguồn cung do thiên tai, dịch bệnh hoặc biến động địa chính trị. Việc đa dạng hóa nguồn cung, không phụ thuộc vào một vài nhà phân phối lớn, cũng là một yếu tố quan trọng. Các chính sách này sẽ giúp Quảng Nam chủ động hơn trong việc điều tiết thị trường và đảm bảo năng lượng cho các mục tiêu phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Cở sở lý luận quản lý nhà nước về hoạt động KDXD Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động KDXD trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Chương 3. Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về KDXD trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÈ HOẠT DONG KINH DOANH XĂNG DÀU 1. NHUNG VAN DE CHUNG VE QUAN LY NHA NUOC DOI VOI HOAT DONG KDXD 1. Một số khái niệm liên quan đến quản lý nhà nước về hoạt động KDXD. Xăng dầu Xăng dầu là sản phẩm của quá trình lọc dầu mỏ, là hỗn hợp (các yếu tố va hgp chat) chat long dé cháy của hydrocarbon, chủ yếu là hexan, heptan, và chỉ số octan, thu được từ dầu mỏ và sử dụng như một dung môi và nhiên liệu cho động cơ đốt trong.

Theo Nghị định số 83/2014/NĐ-CP, “xăng dâu là tên chung để chỉ các sản phẩm của quá trình lọc dầu thô, dùng làm nhiên liệu, bao. gồm: xăng động cơ, dầu điêzen, dầu hỏa, dầu mazut, nhiên liệu bay; nhiên liệu sinh học và các sản phẩm khác dùng làm nhiên liệu động cơ, không bao. gồm các loại khí hóa lòng và khí nén thiên nhiên”. Các sản phẩm xing dau cu thé bao gồm: - Xăng động cơ: Tên thương mại của các loại xăng được đặt theo chỉ số octan.

Các loại xăng đang được lưu hành ở Việt Nam bao gồm: + Xăng Ron 92, Xăng Ron 95, Xăng E5 Ron 92: Chủ yếu được dùng làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông đường bộ như ô tô, xe máy (loại dùng động cơ xăng). + Xăng máy bay: ở Việt Nam hiện nay chủ yếu là xăng ZA1. Loại xăng này sử dụng làm nhiên liệu cho động cơ máy bay, là sản phẩm đặc chủng sử dụng cho ngành hàng không. ~ Nhiên liệu sinh học: Trên thị trường xăng sinh học là hỗn hợp của xăng không chì truyền thống và cồn sinh học (bio-ethanol), trong đó 95 đến 90% thẻ tích là xăng không chì truyền thống và 5 đến 10% thể tích là cồn sinh học được sử dụng làm nhiên liệu cho các loại động cơ đốt trong như xe máy, ôtô.

Xăng sinh học được ký hiệu là “Ex”, trong đó “x” là tỷ lệ % cồn sinh học. Ví dụ: Xăng sinh học E5 tức là nhiên liệu được pha trộn từ 4 + 5% thể tích cồn sinh học. Các ký hiệu xăng ES RON 92 hay xăng RON92 E5 là Xăng sinh học E5 có trị số ốctan (RON) bằng 92. - Dầu Điêzel (Do): dầu Điêzel được phân loại theo hàm lượng lưu huỳnh.

Dầu ĐiêZel hiện đang lưu hành ở Việt Nam là loại Do 0,5 % § (hàm lượng lưu huỳnh tối đa 0,5%). Dầu Điêzel được dùng làm nhiên liệu cho các phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt (loại dùng động cơ ĐiêZel), nhiên liệu đốt cho một số cơ sở sản xuất, nhiên liệu cho chạy máy. ~ Dầu hỏa (Ko): được sử dụng làm nhiên liệu thắp sáng hoặc nhiên liệu đốt cho một số cơ sở sản xuất. ~ Dầu Mazut (Fo): chủ yếu được dùng làm nhiên liệu đốt lò cho các cơ Sở sản xuất.

Xăng dầu là nhiên liệu đầu vào quan trọng của nhiều ngành sản xuất, tác động đến tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Do nhiên liệu là một yếu tố quan trọng trong giá thành sản xuất, giá xăng dầu thay đổi sẽ làm cho giá các sản phẩm có sử dụng xăng dầu là yếu tố đầu vào trong sản xuất thay đổi theo. Cùng với quá trình toàn cầu hóa, giao lưu hàng hóa giữa các quốc gia diễn ra ngày càng mạnh mẽ dẫn đến khối lượng hàng hóa vận chuyên trên thế giới ngày càng gia tăng và xăng dầu hiện nay vẫn là nguồn nhiên liệu chủ yếu cho các phương tiện vận tải đường sắt, đường thủy, đường. bộ và đường hàng không 10 Xăng dầu là nguồn hàng hóa có giá trị, đóng góp quan trọng vào GDP.

của nhiều nước. Rất nhiều quốc gia đã có được nguồn thu ngoại tệ đáng kể nhờ dầu mỏ đặc biệt là các nước trong Tổ chức các nước xuất khâu dầu mỏ (OPEC). Tại Việt Nam, ông Võ Thành Hưng - Vụ trưởng Vụ Ngân sách nhà nước (NSNN), Bộ Tài chính trên báo Thời báo tài chính phát biểu rằng, “dầu mỏ trong một thời kỳ dài luôn là mặt hàng xuất khẩu chiến lược đóng góp quan trọng cho ngân sách nhà nước, nhất là giai đoạn năm 2000-2008, nguồn thu từ dầu thô chiếm tới 30% ngân sách. Tới 2011-2015, tỷ lệ thu ngân sách từ dầu thô bình quân giảm mạnh, song vẫn chiếm khoảng 13% tổng thu ngân sách.

Giai đoạn 2016-2018, thu ngân sách từ dầu thô đã giảm mạnh xuống khoảng 4%. Đến năm 2019, con số này giảm còn 3,2%. Năm 2020, dự toán thu từ dầu thô là 35.200 tỷ đồng, chỉ chiếm 2,3% tổng thu ngân sách, giảm 11.600 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2019 trên cơ sở sản lượng khai thác trong nước ước tính khoảng 9,02 triệu tắn”[13] Cho đến nay, mặc dù có các phương tiện mới ra đời sử dụng các nguồn năng lượng sạch nhưng xăng dầu vẫn là loại nhiên liệu chủ yếu sử dụng cho. phương tiện đi lại hàng ngày.

Do đó, việc thay đổi giá xăng dầu ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đa số dân”chúng. Kinh doanh xăng dầu Khái “niệm KDXD được hiểu như là hoạt động mua bán hàng hóa, đây là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong nền kinh tế của nước ta cũng như các nước trên thế giới. Kháiiệm này chính thức được pháp luật Việt Nam sử dụng từ năm 1990 khi ban hành hai bộ luật quan trọng, đó là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Đến năm 1999 và 2014” được nhắc lại trong Luật Doanh nghiệp như sau: “Kinh doanh được hiểu là việc thực hiện một, một số hoặc tắt cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” [12] HH Nghị định 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 của Chính phủ thì KDXD bao gồm các hoạt động sau: “Xuất khâu (xăng dầu, nguyên liệu sản xuất trong nước và xăng dầu, nguyên liệu có nguồn gốc nhập khẩu), nhập khẩu, tam nhập tái xuất, chuyên khâu, gia công xuất khẩu xăng d.

, nguyên liệu; sản xuất và pha chế xăng dầu; phân phối xăng dầu tại thị trường trong nước; dịch vụ cho thuê kho, cảng, tiếp nhận, bảo quản và vận chuyển xăng dầu”. Tại luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động kinh doanh xăng dầu ở lĩnh vực phân phối tại thị trường trong nước đối với cấp độ địa phương. Quản lý nhà nước về hoạt động KDXD Theo Giáo trình ““Những van dé co ban quan lý hành chính nhà nước” thì “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực. 'Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các môi quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [5].

Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. QLNN được xem là một hoạt động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt. Tir phan tích trên, QLNN đối với hoạt động KDXD là việc Nhà nước sử dụng các công cụ quản lý của mình để tác động đến hoạt động KDXD nhằm đảm bảo sự phát triển ôn định của thị trường xăng dầu và đạt được mục. tiêu kinh tế vĩ mô trong từng thời kỳ.

QLNN về KDXD cũng có thể hiểu là quá trình nhà nước sử dụng quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong hoạt động này nhằm đảm bảo cho hoạt động KDXD diễn ra theo đúng quy định của pháp luật và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của nó. Đặc điểm quản lý nhà nước về KDXD. QLNN về KDXD có 2 đặc điểm chính sau: Thứ nhất, QLNN đối với mặt hàng kinh doanh có điều kiện, Nhà nước phải xây dựng và điều chinh các điều kiện cho phù hợp với yêu cầu phát triển và thực tiễn. Xăng dầu là chất lỏng, nguy cơ cháy nỗ cao, dễ bắt lửa, chỉ va chạm mạnh cũng có khả năng gây cháy nỗ.

Khi cháy chúng phát sáng, thể tích tăng đột ngột và sinh nhiệt. Đặc điểm này đòi hỏi công tác phòng cháy chữa cháy trong hoạt động KDXD là hết sức nghiêm ngặt. Xăng dầu cũng là loại sản phẩm độc hại, vì vậy trong quá trình khai thác, chế biến cũng như vận chuyên, phân phối, bảo quản có thể gây rò rỉ hoặc tai nạn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và môi trường. Đặc điểm này đòi hỏi phải quản lý nghiêm ngặt các tác động môi trường đối với các đơn vị KDXD.

Thứ hai, quản lý đối với với các doanh nghiệp KDXD với ý nghĩa là quản lý vật tư đầu vào của nhiều ngành kinh tế, Nhà nước phải thấy được. mối quan hệ qua lại giữa xăng dầu với các ngành kinh tế khác đẻ điều chỉnh, can thiệp cho phù hợp. Hoạt động KDXD liên quan trực tiếp đến cơ sở hạ tầng của nên kinh tế. Hệ thống cảng biển, hệ thống vận tải thuỷ, bộ, đường sắt, hệ thống kho chứa, đường ống dẫn xăng vừa là cơ sở cho hoạt động KDXD vừa là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế.

'Những hệ thống này càng mở rộng và hiện đại không chỉ đảm bảo cho KDXD thuận lợi mà còn tăng cường tiềm lực phát triển cho cả nên kinh tế. Vì vậy, quan điểm toàn diện trong việc xây dựng, mở rộng và hiện đại hoá các cơ sở phục vụ KDXD cũng phải được xem là quá trình tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế. Hơn thế nữa, do đặc thù của ngành kinh doanh này, việc sử dụng triệt để hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật bảo đảm kinh doanh là 13 hết sức cần thiết, việc phối hợp giữa các tổ chức KDXD trong sử dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật chuyên dùng phải hết sức chặt chẽ. Xăng dầu là mặt hàng kinh doanh chịu sức ép mạnh của các quan hệ kinh tế - chính trị qu tế.

Do vị trí và tầm quan trọng của xăng dầu trong phát triển kinh tế xã hội đòi hỏi các quốc gia đều có một chiến lược riêng về khai thác, chế , xuất nhập khẩu, dự trữ và KDXD.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ