Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Chương 3: Giải pháp tăng cường và đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Để hoàn thành nghiên cứu này, tác giả sử dụng một số tài liệu nghiên cứu chính như sau: - Bộ Lao động thương binh và xã hội, cục Bảo trợ xã hội, Hội thảo.
tham vấn xây dựng kế hoạch thực hiện đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai đoạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030” ngày 01 và 02/3/2018 của Bộ Lao động - TBXH phói hợp với Tổ chức UNICEF tô chức tại Đồ Sơn, Hải Phòng theo Quyết định số 488/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đổi mới, phát triển trợ giúp xã hội giai loạn 2017-2025 và tầm nhìn đến năm 2030”. Hội thảo đã đề cập đến sự cần thiết phải quy hoạch, phát triển mạng lưới các cơ sở trợ giúp xã hội theo mục tiêu của Để án, phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, địa phương; đẩy mạnh hoạt động có hiệu quả các cơ sở trợ giúp xã hội hiện hữu, tạo điều kiện giúp đỡ đề các cơ sở trợ giúp xã hội ngoài cộng đồng có đủ khả năng hỗ trợ cho các đối tượng có hoàn cảnh. đặc biệt khó khăn một cách toàn diện về mọi mặt - Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2018), Hệ thống các chính sách trợ giúp xã hội. Trong tài liệu này, nhóm biên soạn đã hệ thống hóa các văn bản, quy định liên quan đến chính sách trợ giúp xã hội của nước ta trong những năm qua.
Trong đó chia làm 11 mảng chính sách, gồm: Một là, chủ trương, đường lối nói chung về chính sách trợ giúp xã hội; hai là, chính sách đối với người cao tuổi; ba là, chính sách trợ giúp xã hội đối với người khuyết t; bốn là, chính sách trợ giúp xã hội thường xuyêt đột xuất; năm là, chính sách đối với nạn nhân chất độc hóa học; sáu là, chính sách đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; bảy là, các quy định đối với cơ sở trợ giúp xã hội; tám là, lĩnh vực HIV/AIDS; chín là, phát triển nghề công tác xã h‹ mười là, nạn nhân bom mìn; mười một là, y tế lao động xã hội. ~ Nguyễn Văn Chiểu (2010), An sinh xã hội và định hướng nghiên cứu nhằm nâng cao vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam” Nội dung nghiên cứu thể hiện rõ nội dung lý luận và thực tiễn về an sinh xã hội, đồng thời đưa ra định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam. Tác giả đã nghiên cứu và phân tích các khái niệm về ASXH do Liên hợp quốc và ASEAN đưa ra, nêu được bản chất, ý nghĩa, vai trò của ASXH, chỉ ra cấu trúc nội dung của hệ thống ASXH gồm 5 trụ cột: 7) Bao hiểm xã h i; 2) Bảo hiểm y tế; 3) Bảo hiểm thất nghiệp; 4) Cứu trợ xã hội; 3) Trợ giúp xã hội. Đồng thời đưa ra những định hướng nghiên cứu nhằm phát huy vai trò của khoa học xã hội vào quá trình hoạch định chính sách ASXH ở Việt Nam.
Tuy nhiên, tác giả bài viết chú trọng nhiều vào công tác an sinh xã hội chưa liên kết đến từng nội dung khoa học xã hội đối với an sinh xã hội. ~ Trần Ngọc Dương (2018), Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội từ thực tiễn quận Hải Châu, thành phó Đà Nẵng [6]. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng thực hiện công tác bảo trợ xã hội tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trong những năm qua; trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, thành phó Da Nẵng trong thời gian đến. Kết quả phân tích thực trạng cho thấy việc thực hiện công tác bảo trợ xã hội tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua còn nhiều hạn c như: Công tác phô biến, tuyên truyền chính sách bảo trợ xã hội đến cộng đồng, dân cư còn hạn chế; các văn bản thực thi chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên sửa đổi, riêng lẻ, khó tiếp cận, số nội dung văn bản chưa được hướng dẫn hoặc hướng dẫn chưa cụ thể, rõ ràng và còn chồng chéo; quy trình về tô chức dự toán ngân sách trong thực hiện cấp kinh phí để tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội thường xuyên còn bắt cập, chưa tạo được tính chủ động; công tác quản lý nhà nước, sự phối hợp giữa các phòng LÐ ~ TB & XH, phòng Tài chính - Kế hoạch và Bảo hiểm xã hội quận còn có những hạn chế nhất định trong việc cấp kinh phí, cáp thẻ BHYT cho đối tượng BHXH và thực hiện thanh quyết toán vào quỹ BHXH; đội ngũ công chức, người lao.
động làm công tác bảo trợ xã hội năng lực chuyên môn còn hạn chế, kiêm nhiệm nhiều việc nên ảnh hưởng đến hiệu quả công việc; việc triển khai thực hiện chương trình giảm nghèo còn nhiều bất cập do nhiều cơ quan, tổ chức cùng tiến hành dẫn đến chồng chéo về đối tượng, nguồn lực phân tán, lãng phí; số người được hưởng trợ giúp thường xuyên còn it; trợ giúp xã hội đột xuất do diện che phủ thấp, lại không kịp thời nên phạm vi trợ giúp còn hẹp, tập trung chủ yếu cho đối tượng bị rủi ro do thiên tai, chưa bao gồm các đối tượng chịu những rủi ro kinh tế và xã hội. Trên cơ sở các tồn tại, hạn chế nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận Hải Châu, thành phó Đà Nẵng trong thời gian đến, gồm: Nâng cao năng lực các chủ thể bảo trợ xã hội; phát huy sức mạnh tổng hợp các tổ chức, cá nhân tham gia thực hiện chính sách bảo trợ xã hội tại cộng đồng; cải cách hành chính trong thực thi chính sách bảo trợ xã hội; giải pháp về nguồn lực tài chính; nâng cao năng lực các tổ chức cung ứng dịch vụ chính sách bảo trợ xã hội; dân chủ công khai, minh bạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội trên địa bàn quận; các giải pháp bô trợ khác. ~ Trịnh Thị Hồng (2019), Quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum [10]. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh gi phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum giai đoạn 2013 ~ 2017; trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội trên địa bàn huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum trong thời gian đến.
Kết quả phân tích thực trạng cho thấy công. tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội tại huyện Kon Plông, tỉnh Kon Tum thời gian qua còn một số hạn chế, tồn tại, như: Hệ thống văn bản hướng dẫn còn chung chung, chưa cụ thể; công tác truyền thông chưa sâu rộng: việc triển khai thực hiện rà soát, tiếp nhận hồ sơ, lập hồ sơ giải quyết và chế độ báo cáo. từ cấp cơ sở lên còn chậm; chưa thu hút được nguồn thu từ các nguồn khác; năng lực chuyên môn của các bộ, công chức cấp xã thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội còn nhiều hạn chế; việc chỉ trả hàng tháng còn nhiều bất cập; công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác quản lý nhà nước về bảo trợ xã hội còn ít và chưa toàn diện. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất một số giải pháp, cụ thể: Hoàn thiện việc ban hành và phổ biến các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy; hoàn thiện hoạt động quản lý tài chính về bảo trợ xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện; nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm phân tích thực trạng công tác quản lý nhà nước về BTXH tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam; trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quan ly nhà nước về BTXH tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến. Kết quả phân tích thực trạng cho thấy công tác quản lý nhà nước về BTXH tai huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam còn một số hạn chế như: Hệ thống. văn bản hướng dẫn thực hiện chế độ BTXH chưa rõ ràng; công tác thông tin thuyên truyền chấp hành pháp luật về chính sách BTXH chưa được thực hiện một cách thường xuyên; công tác triển khai thực hiện rà soát, lập hồ sơ giải quyết trợ cấp, thông tin báo cáo ở một số xã, thị trắn còn chậm; nguồn tài trợ cho hoạt động BTXH không ổn định; số lượng đối tượng thực tế được hưởng, BTXH còn ít so với tổng số đối tượng trong diện được hưởng; năng lực tổ chức thực hiện công tác BTXH còn hạn chế; việc bố trí cán bộ thực hiện công. tác BTXH chưa rõ ràng, còn kiêm nhiệm nhiều; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách BTXH còn ít về số lượng các cuộc thanh tra, kiểm tra, giám sát và chất lượng thực hiện chưa cao, chưa bao phủ các nội dung thực hiện.
Từ kết quả phân tích, đánh giá thực trạng này, tác giả đã đề xuất một số giải pháp, gồm: Hoàn thiện công tác ban hành, thông tin, tuyên truyền, phô biến pháp luật về chính sách bảo trợ xã hội; hoàn thiện công tác tổ chức bộ máy; hoàn thiện dự toán thu, chỉ bảo trợ xã hội; hoàn thiện tổ chức. hoạt động thu, chỉ bảo trợ xã hội; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện chính sách bảo trợ xã hộ nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về bảo trợ xã hội ~ Nguyễn Văn Tuân (2016), An sinh xã hội ở Việt Nam sau 30 năm đổi mới.