Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn tại các ngân hàng thương mại. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về huy động vốn tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam Chương 3. Giải pháp quản lý nhà nước về huy động vốn tại các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QI LÝ NHÀ NƯỚC DOI VOI HOAT DONG HUY DONG VON CUA CAC NGAN HANG THUONG MAI 1. Những vấn dé chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại 1. Vốn trong hoạt động ngân hàng a. Bản chất của nguồn vốn Theo Các Mác, tư bản là giá trị mang lai giá trị thặng dư.
Định nghĩa này thể hiện đầy đủ bản chất của vốn: 1) vốn phải đại diện cho một loại tài sản nhất định nào đó; 2) vốn phải luôn luôn vận động, luôn luôn sinh lời trong. quá trình vận động; 3) vốn là một loại hàng hóa và cũng như những loại hàng hóa khác, nó có chủ đích thực. Nói ngắn gọn, vốn là một bộ phận của cải được dùng vào sản xuất đề làm ra của cải nhiều hơn. Trong nên kinh tế tập trung quan liêu bao cấp, việc tạo nguồn vốn và đầu tư vốn là công việc của Nhà nước, nghĩa là Nhà nước đóng vai trò vừa là người cấp phát vốn đầu tư cho các thành phần kinh tế, vừa là người tiêu thụ các sản phẩm mà các thành phần kinh tế đó sản xuất.
Vốn của các doanh nghiệp chủ yếu do ngân sách của Nhà nước cấp hoặc vay tín dụng ngân hang với lãi suất thấp. Thực tế cho thấy, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp là rất lớn trong khi nguồn vốn ngân sách Nhà nước cấp lại có hạn và nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư không thu hút được,vì chính sách huy động vốn chưa hợp lý, thủ tục gửi tiền và rút tiền còn rườm rà. Như vậy cơ chế bao cấp đã làm cho đồng tiền không được lưu thông và sử dụng có hiệu quả, không có nơi giao dịch mua bán trên thị trường. Mặt khác cơ chế huy động vốn và sử dụng vốn trong thời kỳ này chưa được quan tâm đúng mức (Lê Thị Mận (2011) Khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, với chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, Nhà nước đã khuyến khích các thành phan kinh tế tự bỏ vốn đầu tư.
Điều đó làm cho vốn trở thành yếu tố quan trọng. hàng đầu và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp Nhà nước không thẻ bỗng dưng mà có được vn vì không được cấp vốn như trước nữa, cho nên buộc họ phải tìm cách mua vốn trên thị trường tài chính. Như thế người mua vốn phải trả lãi cho người có vốn trên thị trường một khoản phí để có được quyền sử dụng vốn trong thời gian xác định.
Thông qua thị trường, vốn được lưu chuyển rộng rãi, từ đó nó mới có thê thể hiện đủ ban chat và vai trò của mình.Mác đã khái quát hoá phạm trù vốn là: “Tư bản” qua định nghĩa hết sức cô đọng: “tư bản là giá trị mang, lai thing du”. Nhu vậy, vốn phải được biểu hiện dưới hình thái giá trị của tài sản tức là vốn phải được đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản nhất định. Mặt khác vốn không chỉ biểu hiện thành tiền (tiền giấy, vàng, bạc, đá quý.) và phản ánh giá trị những tài sản hữu hình (máy móc thiết bị, đất đai, nhà cửa.) mà còn được biểu hiện bằng giá trị của những tài sản vô hình (uy tín, trình độ, phát minh, sáng ché, thông tin, công nghệ.) chính vì sự biểu hiện dưới các hình thức phong phú và đa dạng đó mà vốn cần phải được khai thác, sử dụng có hiệu quả mới đem lại lợi nhuận cao. Và cũng qua đó giúp ta phân biệt với tiền lương dễ dàng hơn: nếu có một lượng tiền được in không được phát hành trên cơ sở giá trị thực của hàng hoá để đưa vào đầu tư thì đó chỉ là vốn giả tạo chứ không phải là vốn đầu tư, thực chất chỉ những đồng tiền phát hành trên cơ sở đảm bảo bằng giá trị thực của hàng hoá mới được gọi là vốn.
Phân loại nguôn vẫn Theo Trần Đình Ty, Nguyễn Văn Cường (2008) về cơ bản nguồn vốn của ngân hàng có thể được phân loại thành các dạng cơ bản như vốn tự có, 10 vốn vay, vốn huy động và vốn khác. Vốn tự có là nguồn vốn do NHTM tự tạo lập ra, thuộc sở hữu riêng có. Chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng (khoảng 5 - 10%) nhưng lại có tính chất Quyết định đến sự hình thành và tồn tại của ngân hàng. Nguồn vốn này mang tính ôn định cao (vì nó thuộc sở hữu của NHTM và NHTM không có nghĩa vụ phải hoàn trả) Vốn huy động Là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ công chúng thông qua việc bán các sản phâm dịch vụ cho khách hàng (là vốn do.
NHTM tạo lập ra thông qua việc thu hút tiền gửi và phát hành giấy tờ có giá) Vốn đi vay là nguồn vốn mà NHTM có được dựa trên mói quan hệ vay. mượn trên thị trường liên ngân hàng, dựa trên các quỹ cho vay đã được thiết lập. Các nguồn vốn khác là nguồn vốn hình thành trong quá trình cung cấp. dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Khái niệm về huy động vốn a. Khái niệm huy động vốn 'Huy động vốn là việc các NHTM động viên các nguồn vốn trong xã hội để phục vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Nó đóng vai trò rất quan trọng. đối với tắt cả lĩnh vực trong nên kinh tế thông qua việc cung cấp các điều kiện thuận lợi cho việc gửi tiền nhàn rỗi của dân cư và các tổ chức kinh tế Vốn huy động của NHTM là giá trị tiền tệ mà ngân hàng tạo lập được thông qua nghiệp vụ huy động vốn, đi vay, vốn tự có và các nghiệp vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Biểu hiện của vốn trong kinh doanh ngân hàng chủ yếu là tiền. Thực chất vốn của ngân hàng, là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của chúng gửi và Ngân hang 11 với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói cách khác ho chuyển nhượng quyền sử dụng vốn cho Ngân hàng, để Ngân hàng trả lại cho họ một khoản thu nhập còn quyền sở hữu khoản tiền này vẫn thuộc về người ký thác (Nguyễn Đăng Dờn (2019). Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại dưới hình thức tiền tệ làm tăng quá trình luân chuyển vốn kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.
Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Vai trò của huy động vốn Nguồn vốn huy động có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. Trong tông nguồn vốn tự có chỉ chiếm vai trò rất nhỏ, còn lại phần lớn là vốn huy động từ bên ngoài. Theo Vũ Đình Giang (2014) vai trò của vốn huy động được thể hiện qua các mặt sau: Thứ nhất, Vốn huy động là cơ sở để ngân hàng thương mại tô chức hoạt động kinh doanh của mình.
Vốn là điều kiện tiên quyết về mặt pháp lý mà ngân hàng thương mại cần phải đảm bảo theo luật pháp. Trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thì vốn vừa là phương tiện kinh doanh vừa là đối tượng kinh doanh. Ngân hàng huy động được vốn lớn sẽ chứng tỏ được khả năng tài chính của mình, tại nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh. Thứ hai, vốn huy động quyết định quy mô tín dụng, khả năng sinh lời cũng như các hoạt động khác của NHTM.
Một ngân hàng có vốn huy động lớn sẽ có nhiều cơ hội để cho vay và có nhiều khả năng thu được nhiềt lợi nhuận từ lãi tiền vay. Đồng thời ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ thanh toán thông qua nhiều hình thức huy động từ đó giảm bớt chỉ phí huy động vốn và thu phí thanh toán. Bên cạnh đó ngân hàng còn có thể giảm chỉ phí tăng hiệu quả sử dụng vốn nhờ quy mô và phạm vi khi vốn tiền gửi lớn. Thứ ba, vốn huy động giúp ngân hàng mở rộng quy mô và đa dạng hoá 12 hoạt động kinh doanh.
Trong khi cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt như hiện nay thì đa dạng hoá hoạt động kinh doanh là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển. Nhờ nguồn vốn lớn bên cạnh các hoạt động. kinh doanh truyền thống như tín dụng, đầu tư chứng khoá ngân hàng có thể phát triển nghiệp vụ thanh toán qua các hình thức như thẻ, séc,. Việc đa dạng hoá hoạt động kinh doanh giúp ngân hàng có thể phân tán rủi ro, mở rộng phạm vi ra các vùng miễn.
Có thể nói rằng vốn huy động quyết định việc mở rộng ngân hàng cả về chiều rộng, cả về chiều sâu. Thứ tư, vốn huy động quyết định khả năng cạnh tranh của các NHTM. Ngày nay cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại ngày càng trở nên gay gắt đặc biệt thông qua lãi suất phí dịch vụ và chất lượng sản phẩm. Khi có nguồn vốn dồi dào ngân hàng sẽ có điều kiện đầu tư công nghệ qua đó nâng cao sức cạnh tranh so với ngân hàng khác.
Khái niệm quản lý của NHNN đối với hoạt động huy động vốn của các NHTM Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tổn tại của nhà nước. Dé nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động. vốn, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” và “quản lý nhà nước”. Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tùy góc độ nghiên cứu và cách tiếp cận.
Theo Phan Huy Đường (2015) Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người dé chúng phát triển phù hợp với quy luật. đạt tới mục đích đặt ra và đúng với ý chí của người quản lý. Theo nghĩa rộng, quán lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyên lực nhà nước trên các 13 phương diện lập pháp, hành pháp và tr pháp.