Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỌC SINH BÁN TRÚ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Việc thành lập trường phổ thông dân tộc bán trú là một trong những quyết sách rất có ý nghĩa để nuôi dưỡng ước mơ tri thức cho con em đồng bào dân tộc ít người đang sống tại các huyện miền núi và vùng sâu vùng xa. Đồng thời sẽ giúp cho các địa phương khắc phục tình trạng nghỉ học để giữ vững tỷ lệ phổ cập GD và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững trong thời kỳ đổi mới. Mô hình trường THCS, TH&THCS có HSBT đã hình thành tự phát vào cuối những năm 1950 và nhân rộng trong những năm đầu thập kỷ 90 tại các tỉnh miền núi phía Bắc nhằm đáp ứng nhu cầu học tập, nâng cao dân trí của con em các dân tộc thiểu số.
Luận văn Thạc sỹ của Hoàng Văn Khánh (2010), đề tài “Quản lý hoạt động ngoài giờ học trên lớp của học sinh bán trú dân nuôi ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động ngoài giờ học trên lớp của học sinh bán trú dân nuôi, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang [8]. Luận văn Thạc sỹ của Mai Tiến Dũng (2013), đề tài “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động học tập của học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang [6].
Luận văn Thạc sỹ của Nguyễn Như Sơn (2014), đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho của học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm 6 Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh bán trú trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường THPT Hà Lang, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang [12]. Lê Mã Lương (2017), “Quản lý học sinh bán trú dân nuôi ở trường trung học cơ sở Đồng Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ”, luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý giáo dục, Trường Đại học Giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội. Luận văn đã đề cập đến một số khái niệm, quan điểm của Đảng, nhà nước về giáo dục dân tộc; những đặc điểm của học sinh THCS bán trú dân nuôi; quản lý học sinh bán trú dân nuôi bao gồm công tác xây dựng kế hoạch; tổ chức các nội dung quản lý; chỉ đạo thực hiện kế hoạch quản lý; kiểm tra đánh giá công tác hoạt động; quản lý đội ngũ làm công tác quản lý; quản lý cơ sở vật chất và các điều kiện thiết yếu phục vụ; quản lý quá trình phối hợp các tổ chức trong và ngoài trường và phụ huynh.
Trên cơ sở đó phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HSBT dân nuôi tại trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn; từ đó đề xuất các biện pháp quản lý HSBT dân nuôi tại trường THCS Đồng Sơn, huyện Tân Sơn [10]. Trong các nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau của công tác quản lý học sinh bán trú, các tác giả đã chỉ ra vai trò, tầm quan trọng của hoạt động học tập, các kỹ năng tự học và một số biện pháp tổ chức hoạt động học tập cho học sinh. Việc nghiên cứu quản lý HS THPT bán trú một cách tổng thể bao gồm cả những hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, đời sống sinh hoạt, các hoạt động phát triển thể chất,… còn ít công trình nghiên cứu. Đặc biệt với trường THPT huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai chưa có công trình nghiên cứu.
Chính vì vậy, chúng tôi chọn vấn đề “Quản lý công tác học sinh bán trú ở các trường trung học phổ thông huyện Bắc Hà, tỉnh Lào Cai” làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của các trường THPT tại huyện Bắc Hà. Các khái niệm cơ bản 7 1. Quản lý nhà trường *Khái niệm về quản lý Các nhà lý luận QL trên thế giới như: Frederick Winslow Taylor, [Mỹ, (1856-1915)]; Max Werber, [Đức, (1864-1920)]; đều đã khẳng định: Quản lý là khoa học đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Nói đến hoạt động QL người ta thường nhắc đến ý tưởng rất sâu sắc của K-Marx: “Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng” (dẫn theo [6]).
Henri Fayol (1841 - 1925), cha đẻ của thuyết hành chính thì coi quản lý là một loại công việc đặc thù, khác các loại công việc khác của xí nghiệp và trở thành một hệ thống độc lập, phát huy tác dụng riêng của nó mà các hệ thống khác của xí nghiệp không thể nào thay thế được. Ông nói về nội hàm của khái niệm quả lý như sau: “Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra”. Đây là khái niệm mang tính khái quát về chức năng quản lý (dẫn theo [13]). Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lí tới đối tượng quản lí nhằm đạt mục tiêu đề ra” [7].
Đặng Quốc Bảo (1999): “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế, bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các giải pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [1]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối đa các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”; “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích đề ra” [5]. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích,có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động, nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [11]. 8 Từ những khái niệm và quan điểm trên, có thể khái quát như sau: Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu, hay: Quản lý là sự tác động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của chủ thể đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực để cùng thực hiện thành công nhiệm vụ, mục tiêu, dự kiến đề ra.
*Khái niệm về quản lý nhà trường Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của các cơ quan, các tổ chức có trách nhiệm QLGD như Bộ Giáo dục & Đào tạo, Sở Giáo dục &Đào tạo, Phòng Giáo dục & Đào tạo và các cấp chính quyền tương ứng đối với một cơ sở giáo dục (nhà trường) cụ thể nào đó. Quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của công tác quản lý một cơ sở giáo dục (hiệu trưởng hay một người có chức vụ tương đương như hiệu trưởng) đối với các hoạt động giáo dục của cơ sở giáo dục mà họ được giao trách nhiệm trực tiếp quản lý. Khái niệm quản lý nhà trường được hiểu theo góc độ thứ hai,cụ thể: “Quản lý nhà trường là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật) của chủ thể quản lý nhà trường (hiệu trưởng) đến khách thể quản lý nhà trường(giáo viên,nhân viên, người học,…) nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt tới mục tiêu giáo dục”. Học sinh bán trú trường THPT Theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú ban hành kèm theo Thông tư số 24/2010/TT-BGDĐT ngày 02/8/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Học sinh bán trú là học sinh ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, được cấp có thẩm quyền cho phép ở lại trường để học tập trong tuần, do không thể đi đến trường và trở về nhà trong ngày” [2].
Học sinh bán trú có nhiều điểm khác biệt so với học sinh nội trú. Học sinh nội trú là học sinh hiện đang theo học tại các trường phổ thông dân tộc nội trú cấp huyện và cấp tỉnh, là con em các dân tộc thiểu số, con em các dân tộc định 9 cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn được tuyển vào học ở trường phổ thông dân tộc nội trú với số lượng nhất định. Học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú phải ở tập trung tại khu nội trú của nhà trường trong suốt thời gian học tập, không được ở trọ bên ngoài nhà trường; mọi sinh hoạt và học tập đều diễn ra trong phạm vi khuôn viên nhà trường, có sự quản lý của nhà trường; được học 2 buổi trên ngày theo nội dung, chương trình quy định của Bộ GD&ĐT; được hưởng các chế độ ưu tiên theo quy định của Nhà nước. Học sinh ở bán trú là các học sinh hiện đang theo học ở các trường phổ thông bình thường thuộc nhiều cấp học (tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông), thuộc đủ các thành phần dân tộc, do gia đình ở cách xa trường, đường đi lại rất khó khăn, phải qua đèo, qua suối, các em không thể đi về trong ngày, phải đến trọ học tại khu bán trú nhà trường, trọ ở nhà người quen, họ hàng, trong nhà dân, cuối tuần vào ngày chủ nhật mới về sinh hoạt cùng gia đình.
Công tác học sinh bán trú là công tác thực hiện vai trò chăm lo sức khỏe, tâm lý, phát triển toàn diện của học sinh, tạo nên sự giáo dục đồng bộ trong nhà trường.