CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỔ BỘ MÔN HÓA HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan về nghiên cứu vấn đề Quản lý giáo dục ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, với sự đóng góp của nhiều tác giả nghiên cứu về quản lý giáo dục như: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Trọng Hậu. Trong số các đề tài nghiên cứu về quản lý giáo dục thì có một số đề tài nghiên cứu về hoạt động của đội nhóm trong nhà trường. Điều đó đặt nền móng cho việc nghiên cứu hoạt động TCM.
Những năm gần đây nhiều học viên cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục chọn các đề tài liên quan đến quản lý họat động tổ chuyên môn làm đề tài nghiên cứu khoa học như: -Luận văn Biện pháp chỉ đạo hoạt động TCM ở các trường THPT Huyện Thạch Thất - Hà Nội của Nguyễn Thu Thủy. -Luận văn Quản lý hoạt động TCM của HT trường THPT dân tộc nội trú, Tỉnh Hà Giang của Triệu Thị Chính. -Luận văn Biện pháp chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với tổ trưởng chuyên môn tại trường THPT Lý Thường Kiệt, Long Biên, Hà Nội của Giang Thị Thu Hà. Các luận văn trên đã khảo sát, nghiên cứu hoạt động TCM, thực trạng quản lý hoạt động TCM, việc chỉ đạo của HT đối với hoạt động TCM và những tác động, ảnh hưởng đến hoạt động TCM ở các địa phương một cách cụ thể.
Đồng thời, các luận văn cũng đã đề ra các biện pháp quản lý để đưa hoạt động TCM hoạt động có chất lượng, hiệu quả. Tuy có nhiều đề tài nghiên cứu về quản lý hoạt động TCM nhưng lại có rất ít đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động ở một TCM cụ thể, vì thế công tác quản lý hoạt động TCM còn chung chung cho tất cả TCM, chưa phát huy thế mạnh và đặc thù riêng của từng TCM. Đặc biệt ở trường THPT Bà Điểm thì 6 công tác quản lý hoạt động TCM Hóa học cũng có nhiều hạn chế dẫn đến chất lượng và hiệu quả hoạt động TCM chưa cao. Bên cạnh đó chưa có công trình khoa học nào đề cập và nghiên cứu một cách cụ thể đến quản lý hoạt động TCM Hóa học ở trường THPT Bà Điểm.
Từ nhận định trên, tác giả nhận thấy công tác quản lý của TTCM đối với hoạt động của TCM Hóa học ở trường THPT Bà Điểm, Huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh rất cần thiết, cần được nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khoa học quản lý xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Lao động xã hội càng phát triển thì khoa học quản lý cũng ngày càng phát triển theo nội tại của mọi quá trình lao động.
Nói cách khác nội dung, tính chất, đặc thù của mỗi đặc thù lao động tạo nên hệ quy chiếu của họat động quản lý riêng cho chính nó. Quản lý là một khoa học sử dụng tri thức của nhiều môn khoa học tự nhiên, xã hội - nhân văn khác như: Toán học, thống kê, kinh tế, tâm lý học, giáo dục học, đạo đức học, xã hội học, … là một nghệ thuật đòi hỏi sự khôn khéo và tinh tế cao độ để đạt được mục đích. Chính vì vậy có thể nhìn nhận khái niệm quản lý theo nhiều cách khác nhau. - “Bản chất của hoạt động quản lý bao gồm hai quá trình tích hợp vào nhau: quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” gồm sự sửa sang, sắp xếp, đổi mới hệ, đưa hệ vào thế “phát triển”…Trong “quản” phải có “lý”, trong “lý” phải có “quản” để động thái của hệ ở thế cân bằng động: hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực)”.4] - “Quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức 7 nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”.9] - Hiện nay, hoạt động quản lý được định nghĩa rõ hơn: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo), kiểm tra”.9] Tóm lại, quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.
Các chức năng quản lý Bàn về hoạt động quản lý và người quản lý, chúng ta cần tìm hiểu người quản lý phải làm gì để tổ chức các hoạt động đạt hiệu quả và đạt được mục đích của mình. Hoạt động quản lý gồm có bốn chức năng: - Chức năng kế hoạch hóa: là chức năng đầu tiên quan trọng nhất của quá trình quản lý. Kế hoạch hóa nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt mục tiêu, mục đích đó. - Chức năng tổ chức: tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức.
- Chức năng chỉ đạo: là huy động lực lượng để thực hiện kế hoạch, biến những mục tiêu trong dự kiến thành kết quả thực hiện. Giám sát các hoạt động, các trạng thái vận hành của quá trình đúng tiến độ, đúng kế hoạch. Khi cần thiết phải điều chỉnh, sửa đổi nhưng không làm thay đổi mục tiêu chiến lược đề ra. - Chức năng kiểm tra: kiểm tra là chức năng xuyên suốt trong quá trình quản lý và là chức năng của mọi cấp quản lý.
Nhiệm vụ của kiểm tra, đánh giá xem mục tiêu dự kiến ban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào, kịp thời phát hiện những sai sót trong quá trình thực hiện, tìm nguyên nhân thành công, thất bại để giúp cho chủ thể quản lý rút ra bài học kinh nghiệm. Tổng hợp các chức năng quản lý tạo nên nội dung của quá trình quản lý. Trong một chu trình quản lý các chức năng thực hiện kế tiếp nhau, độc lập 8 nhau nhưng có một số chức năng diễn ra đồng thời hoặc kết hợp với việc thực hiện các chức năng khác. Ngoài 4 chức năng nêu trên trong chu trình quản lý, chủ thể quản lý phải sử dụng thông tin như là một công cụ để thực hiện các chức năng trên.
Chu trình quản lý được thể hiện qua sơ đồ: Kế hoạch Thông tin Tổ chức Kiểm tra quản lý Chỉ đạo Sơ đồ 1. Sơ đồ các chức năng quản lý 1. Quản lý giáo dục Giáo dục là một dạng hoạt động đặc biệt có nguồn gốc từ xã hội. Bản chất của hoạt động giáo dục là quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa của dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung, hoàn thiện và trên cơ sở đó không ngừng phát triển.
Tính đặc thù của quá trình giáo dục là sản phẩm của quá trình hình thành nhân cách con người phù hợp với yêu cầu của xã hội. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đặc biệt trong thời đại ngày nay giáo dục đã trở thành nhân tố quyết định thúc đẩy sự phát triển xã hội vì chỉ có giáo dục mới đào tạo nguồn lực đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội. Giáo dục có vị trí quan trọng như vậy nên nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đưa ra những khái niệm về quản lý giáo dục.
9 - “Quản lý giáo dục một cách khái quát là sự tác động có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tượng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra” [21, tr. - ‘‘Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra” [21, tr. - “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [21, tr. Trong thực tế, Quản lý giáo dục là một quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan Quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục Nhà nước đề ra.
Vì vậy, “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là điều hành, phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [21, tr. Quản lý giáo dục là một khoa học. Đó là khoa học tổ chức, điều khiển các tổ chức và các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Quản lý khoa học có đối tượng, có nhiệm vụ, có phương pháp nghiên cứu riêng.
Quản lý giáo dục phải tuân theo quy luật khách quan. Quản lý giáo dục là một nghệ thuật. Đó là nghệ thuật nắm giữ thông tin, nghệ thuật tổ chức, điều khiển các mối quan hệ trong tổ chức. Nghệ thuật tổ chức giáo dục con người, giáo dục khéo kết hợp với chính sách, kỷ luật.
Quản lý không phải chỉ bằng mệnh lệnh hành chính mà phải bằng cả các phương pháp tâm lý, thuyết phục, động viên, chăm lo con người. 10 Quản lý giáo dục là quản lý hoạt động dạy của GV thông qua TCM và hoạt động học của HS nhằm đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và hình thành nhân cách cho HS. Quản lý nhà trường Nhà trường là một thiết chế xã hội thực hiện chức năng GD-ĐT của Nhà nước và cộng đồng xã hội chuẩn bị cho thế hệ trẻ có nhân cách vững vàng bước vào cuộc sống.