CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HÌNH THỨC TRỰC TUYẾN Ở CƠ SỞ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Sự phát triển ngày càng văn minh của con người, đi cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ đã góp phần rất lớn trong sự nghiệp giáo dục. Dạy học vốn xưa nay được xem là một hình thức giáo dục truyền thống.
Khi nói đến hình thức dạy học truyền thống, chúng ta thường hình dung có một lớp học được cố định ở một chỗ, có học sinh ngồi trong lớp và có giáo viên đứng giảng bài. Tuy nhiên, trong kỷ nguyên nền kinh tế tri thức nhờ có sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ con người có thể tiếp cận một hình thức dạy học khác nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng, người học có nhu cầu học tập ở mọi nơi, mọi lúc. Đó chính là hình thức dạy học từ xa. Với hình thức này, người học và người dạy không nhất thiết phải có mặt trên lớp học nhưng vẫn chủ động truyền đạt kinh nghiệm lịch sử cho nhau được.
Từ những yêu cầu mới này của người học mà hình thức dạy học từ xa đã ra đời. Hình thức DHTT được hình thành với sự tham gia hỗ trợ của các công nghệ như công nghệ in ấn, công nghệ phát thanh, điện tín v. tới truyền thông đa phương tiện và liên lạc điện tử vào những năm 90 của thế kỷ XIX. Sự phát triển của một mạng lưới Tivi được phủ sóng trên phạm vi rộng trở nên phù hợp với mô hình lớp học chỉ với một giáo viên tại chỗ và người học ở nhiều địa điểm khác nhau.
Trở ngại của phương thức dạy học này là người học phải sẵn sàng học vào giờ phát sóng. Tiếp đó là mạng Internet và công nghệ Web và ngày nay là hệ thống học tập điện tử và các công nghệ DHTT đang khẳng định vị trí trong môi trường học tập. DHTX thực tế đã bắt đầu với sự xuất hiện của “Trung tâm học tập với sự trợ giúp của máy tính” vào năm 1982 ở Rindge, New Hampshire, Mỹ - trường học trực tuyến đầu tiên của quốc gia ở Tây bán cầu này. Từ 1994 - 1995, khi Internet đã trở nên phổ biến chỉ từ một mô hình nhỏ ban đầu của các nhà cung cấp Internet nội bộ, nhờ đó giáo dục trực tuyến đã thực sự bùng nổ.
Các lợi ích của giáo dục trực tuyến ngày càng trở nên rõ ràng hơn. Chính sự phát triển h 8 của công nghệ E-Learning, khả năng tổ chức một lớp học ảo và một môi trường học tập ảo đã dần phá vỡ tồn tại của những quan niệm trước đây chưa thực sự coi trọng DHTX khi chuyển từ hình thức giáo dục truyền thống sang E-Learning với sự trợ giúp của máy tính, hệ thống công nghệ thông tin và truyền thông. Hiện nay, một chương trình đào tạo trực tuyến có cấp bằng có thể dễ dàng được tìm thấy từ các trường cao đẳng, các trường chuyên nghiệp. Hơn nữa các cơ hội từ giáo dục trực tuyến tăng nhanh hàng ngày và bằng cấp trực tuyến đã được những người sử dụng lao động đón nhận một cách bình thường.
(Nguyễn Tiến Dũng, 2013) Theo tác giả Natalie Aranda (2005), E-Learning là một thuật ngữ rất rộng. Nó thường được sử dụng để mô tả môi trường dạy học có sử dụng máy tính. Có rất nhiều công nghệ có thể sử dụng cho E-Learning. Thuật ngữ DHTX được sử dụng để mô tả một môi trường học tập mà địa điểm lớp học, môi trường dạy học thay đổi so với lớp học truyền thống.
E-Learning bắt đầu xuất hiện vào khoảng thời gian máy tính được phát triển do nhu cầu thực hành cá nhân. Trên thực tế, ý tưởng và thực hành về DHTX xảy ra trước thời kỳ của máy tính khoảng 100 năm. Ở Anh, vào năm 1840, các lớp học tốc ký đã được đề xuất bởi các khóa học tương tự qua thư tín. Sự phát triển của dịch vụ bưu điện đã làm cho phương thức của DHTX này thông dụng ở giai đoạn đầu thế kỷ trước.
Phương thức này đã làm xuất hiện một số lượng lớn các chương trình giáo dục “thông qua thư tín”. Máy tính làm cho DHTX dễ dàng hơn và tốt hơn. Tivi, băng video, radio v. tất cả đã góp phần thúc đẩy DHTX phát triển mạnh mẽ.
Vào đầu những năm 1900, công nghệ truyền thông được cải thiện và giáo dục từ xa đã lên sóng vô tuyến. Năm 1919, các giáo sư tại Đại học Wisconsin thành lập một đài phát thanh nghiệp dư, trở thành đài phát thanh được cấp phép đầu tiên dành riêng cho việc phát sóng giáo dục. Ngay sau đó, khả năng tiếp cận giáo dục đại học lại được mở rộng thông qua việc phát minh ra tivi; khai sinh ra cái được gọi là đào tạo từ xa. Đại học Iowa bắt đầu thử nghiệm truyền hình cho mục đích giáo dục vào những năm 1930.
Mãi cho đến những năm 1950, khi FCC bắt đầu xây dựng các kênh truyền hình cho mục đích giáo dục, các khóa học từ xa mới thu hút sự chú ý của công chúng. Giá trị của truyền hình đối với giáo dục càng được nâng cao khi Tổng công ty h 9 Phát thanh Truyền hình Công cộng (CPB) được thành lập vào năm 1967. Sứ mệnh của CPB là "khuyến khích sự tăng trưởng và phát triển của phát thanh và truyền hình công cộng, bao gồm cả việc sử dụng các phương tiện này để giảng dạy, mục đích giáo dục và văn hóa ". (Kentnor, H, 2015) Theo tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy học trực tuyến xuất hiện vào năm 1982 khi Viện Khoa học Hành vi Phương Tây ở La Jolla, California mở Trường Quản lí và Nghiên cứu Chiến lược.
Trường đã sử dụng máy tính hội nghị để cung cấp một chương trình đào tạo từ xa cho các giám đốc điều hành doanh nghiệp. Năm 1989, Đại học Phoenix bắt đầu cung cấp các chương trình giáo dục thông qua internet. Năm 1993 với sự ra mắt của trình duyệt web Internet đầu tiên, được tạo ra bởi Đại học Illinois, việc học trực tuyến bắt đầu phát triển mạnh mẽ. Năm 1998, các chương trình trực tuyến hoàn toàn đầu tiên được thành lập: Đại học Trực tuyến New York, Đại học Thống đốc Western, Đại học Ảo California và Đại học Quốc tế Trident.
Chương trình Lãnh đạo Công nghệ Giáo dục được thông qua Trường Cao học Giáo dục và Phát triển con người tại Đại học George Washington, cấp bằng Thạc sĩ bắt đầu từ năm 1992. Chương trình do Tiến sĩ William Lynch phát triển, ban đầu cung cấp nội dung khóa học liên quan đến Đại học Mind Extension của Jones Intercable (ME/U). Các lớp học được phát qua vệ tinh vào ban đêm, và học sinh giao tiếp thông qua hệ thống Bảng tin. Nhóm học viên đầu tiên của họ tốt nghiệp vào tháng 5 năm 1994.
Đến đầu năm 1996, Bill Robie đã chuyển đổi Chương trình ETL sang Internet, nơi chương trình cấp bằng sau đại học được cung cấp hoàn toàn trực tuyến. Ông đã tập hợp một bộ công cụ dựa trên web và các trang HTML cho phép giao tiếp không đồng bộ giữa sinh viên và giảng viên, phân phối bài giảng, hộp thả bài tập và các tính năng khác mà từ đó đã trở thành bộ công cụ cốt lõi cho hệ thống quản lí khóa học. Năm 2000 chỉ có 8% sinh viên đăng ký tham gia một khóa học trực tuyến, nhưng đến năm 2008, số sinh viên đăng ký đã tăng lên 20%. Việc mở rộng giáo dục trực tuyến cũng không bị chậm lại; vào mùa thu năm 2013, gần 30% tổng số học sinh sau trung học đã đăng ký tham gia một số loại hình đào tạo từ xa (National Center for Education Statistics, 2016).
Mặc dù dữ liệu về quá trình hoàn thành khóa học trực tuyến và chương trình rất phức tạp, các nhà nghiên cứu đã h 10 ghi nhận tỷ lệ hao mòn cao (dao động từ 20% -50%) ở những sinh viên đăng ký các khóa học trực tuyến so với những người tham gia các khóa học trực tiếp truyền thống. (Jazzar, M, December 7, 2012) Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, đến nay ĐTTT đã trở thành xu thế tất yếu của thời đại. ĐTTT mang nhiều ưu điểm, lợi ích vượt trội trong hoạt động giảng dạy bởi nó giúp người dạy và người học đạt được những kỹ năng cần thiết cho công việc ở thế kỷ XXI. Vì vậy, nhiều học giả và các tổ chức đã quan tâm nghiên cứu cũng như tiến hành triển khai ĐTTT trên các giác độ, phạm vi khác nhau.
Như, (Belawati, T and Baggaley, 2010) đã nêu ra nguyên lý “giáo dục phải được mở cho tất cả mọi người”, nhấn mạnh sự linh hoạt và mềm dẻo của hệ thống giáo dục - đào tạo trực tuyến, giảm thiểu các rào cản xuất phát từ tuổi tác, vị trí địa lý, thời gian và tình trạng tài chính. (Eds), 2010) cho rằng ĐTTT là hình thức học tập bằng truyền thông qua mạng Internet theo cách tương tác với nội dung học tập và được thiết kế dựa trên nền tảng phương pháp dạy học. (Horton, W, 2006) xác định, xét một cách đơn giản, ĐTTT là việc sử dụng các CNTT và máy tính nhằm tạo ra các trải nghiệm học tập. (Karl, K, 2001) cho rằng ĐTTT là việc giảng dạy trong môi trường học tập mà người dạy và người học có sự cách biệt về thời gian hay không gian, hoặc cả hai.
Người dạy cung cấp nội dung khóa học thông qua các ứng dụng quản lí học tập (LMS, LCMS), các nguồn tài nguyên đa phương tiện, mạng Internet, hội thảo trực tuyến…, còn người học nhận nội dung khóa học và tương tác với người dạy thông qua cùng các phương tiện kỹ thuật đó.A, 2001), ĐTTT là “việc áp dụng công nghệ để tạo ra, cung cấp, chọn lựa, quản trị, hỗ trợ và mở rộng cách học truyền thống”. Việc phát triển của Internet, cùng với khả năng giúp người học tiếp cận liên tục các khóa đào tạo một cách hiệu quả và tiết kiệm, đã tạo nên một thời kỳ mới cho việc dạy và học đạt đến những tầm cao mới mà chưa có công nghệ nào có thể sánh được. Cùng với sự phát triển không ngừng của CNTT, ĐTTT đã được triển khai tại nhiều trường đại học trên thế giới, các tiêu chuẩn công nghệ mới được áp dụng nhằm tiếp cận với những cơ hội giáo dục và đào tạo mới.