Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về phát triển ngành du lịch; Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về phát triển du lịch thông minh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2018-2021; Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về phát triển du lịch thông minh trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIEN NGANH DU LICH VA LOAI HINH DU LICH THONG MINH 1. Một số khái niệm có liên quan 1.Khái niệm du lịch và du lịch thông mình Khái niệm du lịch Hiện nay, nhiều khái niệm về du lịch đã được nhiều tác giả đưa ra với những góc độ tiếp cận khác nhau, trong đó có một số khái niệm điển hình như sau: Theo Tổ chức Du lịch Thế giới thuộc Liên Hợp Quốc (1994), du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của cá nhân đi, đến và lưu lại ngoài nơi ở thường xuyên trong thời gian không dài (hơn một năm) với những mục đích khác nhau ngoại trừ mục đích kiếm tiền hàng ngày [29]. Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Việt Nam (1995), du lịch có hai nghia: Mot Id, du lich 1a một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoải nơi cư trú với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật.
#4 /à, du lịch là một ngành kinh doanh tông hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước. Đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình. Về mặt kinh tế, du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn, có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ. Hau nhu nuéc nao cting coi trong phat trién hoat động du lịch [10].
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Du lịch 2017, “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá I năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [20]. Như vậy, du lịch là một khái niệm có nhiều cách tiếp cận xuất phát từ tính chất phong phú và sự phát triển của hoạt động du lịch. Chính vì vậy, tùy thuộc vào từng mục đích nghiên cứu mà có thé str dụng các khái niệm đó một cách phù hợp. Trong phạm vi luận văn nảy, do tiếp cận dưới góc độ là một ngành kinh tế nên thuật ngữ du lịch được hiểu theo Giáo trình Tổng quan về du lịch, theo do, “du lich la tong thé những hiện tượng và những mối quan hệ phát sinh từ sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách du lịch, những nhà kinh doanh du lịch, chính quyên sở tại, cộng động cư dân địa phương trong quá trình thu hút và lưu giữ khách du lich” (18).
Khái niệm du lịch thông mình Là một thuật ngữ mới xuất hiện từ sau cách mạng công nghiệp 4.0, xoay quanh thuật ngữ “du lịch thông minh”, hiện cũng tồn tại rất nhiều quan điểm, cách hiểu khác nhau. Theo Gretzel & cộng sự (2015), du lịch thông minh là du lịch được hỗ trợ bằng cách tích hợp các nỗ lực tại điểm đến để thu thập và tập hợp/khai thác dữ liệu nhận được từ cơ sở hạ tầng vật lý, các kết nối xã hội, các nguồn từ chính phủ/tô chức và con người kết hợp với việc sử dụng các công nghệ nâng cao đề chuyền đổi dữ liệu vào trải nghiệm tại điểm đến và tuyên bố giá trị của doanh nghiệp rõ ràng tập trung vào hiệu quả, bền vững và giàu trải nghiệm [6]. Theo Shuichi Kasahara (2019), do sự phát triển của công nghệ thông tin nên hiện nay phần lớn các hoạt động dịch vụ du lịch đều được hỗ trợ bởi công nghệ số và loại hình du lịch kiểu này được gọi là du lịch thông minh [21]. Theo Lê Quang Đăng (2019), du lịch thông minh là du lịch được phát triển trên nền tảng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông, nhằm tạo ra những giá trị, lợi ích và dịch vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý du lịch và cộng đồng [4].
Theo ông Vũ Thế Bình, Chủ tịch Hiệp hội Lữ hành Việt Nam cho rằng: “Du lịch thông minh làm cho con người tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng, đa dạng và nhiều thông tin nhất. Vì thế, nó đã làm thay đổi hoàn toàn tư duy của một ngành kinh tế đó là thông tin” [7]. Như vậy, có thể nhóm thành 2 cách hiểu về du lịch thông minh như sau: — Cách hiểu thứ nhất: Du lịch thông minh (Smart Travel), là trào lưu du lịch mới, khác với những tour du lịch truyền thống trong đó người ta chú trọng đến lợi ích của du khách nhưng lại có mức chi phí thấp và an toàn. Hiểu theo cách này, du lịch thông minh ở đây chính là “đi du lịch thông minh”, ám chỉ việc khách du lịch chủ động, tính toán, lên kế hoạch cụ thể cho chuyến du lịch một cách thông minh nhất đề đạt được giá trị trải nghiệm tối đa trong khi chỉ phí lại ở mức tối thiểu.
- Cách hiểu thứ hai: Du lịch thông minh tức là Smart Tourism, là du lịch có sự kết hợp của yếu tố công nghệ. Trong đó: + Du lịch thông minh là phương tiện, công cụ hỗ trợ du lịch. Hiểu theo cách này, công nghệ được ứng dụng đề tạo ra các phương tiện, công cụ thông minh hỗ trợ cho các hoạt động du lịch, như: các phần mềm quản lý thông minh hỗ trợ các cơ quan quản lý và doanh nghiệp du lịch, các ứng dụng và tiện ích thông minh hỗ trợ khách du lịch. Ví dụ tiện ích thuyết minh tự động, phần mềm quản lý hành chính điện tử, phần mềm quản lý hướng dẫn viên du lịch, phần mềm đặt vé trực tuyến, tiện ích chỉ đường và tìm kiếm khách sạn, khu vui chơi giải trí,.
+ Du lịch thông minh là một loại hình du lịch mới, bổ sung vào hệ thống phân loại các loại hình du lịch ở Việt Nam (du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch thể thao, du lịch MICE (hoạt động du lịch kết hợp với hội thảo, hội nghị, khen thưởng, sự kiện), du lịch thăm thân, du lịch chữa bệnh, du lịch nông thôn, du lịch đô thị,. du lịch thông minh). + Du lịch thông minh là sản phẩm du lịch mới, bao gồm các dịch vụ trải nghiệm được tạo ra bằng việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến cung cấp cho khách du lịch. Ví dụ: tour du lịch thực tế ảo, phim 3D — 3600, cac tro choi giải trí công nghệ,.
Trong phạm vi luận van nay, du lich thong minh duoc hiểu theo cách thứ hai, là du lịch được phát triển trên nên tảng ứng dụng những thành tựu của khoa học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông nhằm tạo ra những giá trị, lợi ích và dịch vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cau da dang cua khách du lịch, doanh nghiệp du lịch, cơ quan quản lý du lịch và công đồng. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch và quản lý nhà nước về du lịch thông mình Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch không được đề cập trong Luật Du lịch năm 2017. Thuật ngữ này chỉ được giải thích trong một số giáo trình và công trình nghiên cứu với sự kết hợp từ thuật ngữ quản lý nhà nước và thuật ngữ du lịch với ý nghĩa là quản lý nhà nước về kinh tế. Cụ thể: Khái niệm quản lý nhà nước được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau và đã được đưa ra trong nhiều giáo trình về quản lý nhà nước.
Một trong những khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được đưa ra bởi tác giả Nguyễn Hữu Hải (2012) trong Giáo trình Hành chính nhà nước như sau: “Quản lý Nhà nước là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những 10 chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ồn định và phát triển đất nước” [8]. Dưới góc độ kinh tế, theo Đỗ Hoàng Toàn (2005) trong giáo trình Quản lý nhà nước về kinh tế: “Quản lý nhà nước về kinh tế là tổng thể những phương thức quản lý có chủ đích của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân và các bộ phận hợp thành của nó dé thực hiện các mục tiêu nhất định” [27]. Như vậy, quản lý nhà nước về kinh tế là một chức năng của nhà nước, theo đó Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể dé can thiệp vào nền kinh tế nhằm hạn chế những khuyết tật của nền kinh tế thị trường, tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, phân bổ nguồn lực một cách tối ưu và thúc đây tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa, phù hợp với các giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa của đất nước. Từ đó, một số tác giả đưa ra cách hiểu về quản lý nhà nước về du lịch như sau: Theo Giáo trình kinh tế du lịch do tác giả Nguyễn Văn Đính (chủ biên, 2006), quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động bằng quyền lực của Nhà nước đối với ngành du lịch nói chung và các hoạt động du lịch nhằm tạo ra sự thống nhất trong tô chức và hoạt động du lịch, đảm bảo phát triển du lịch, góp phần đây mạnh kinh tế mà vẫn bảo tồn được tài nguyên, duy trì và phát triển văn hóa, bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển đu lịch.
Quản lý nhà nước về du lịch là nhằm đưa du lịch phát triển theo định hướng chung của tiến trình phát triển của đất nước [5, tr.