CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm về tiểu thủ công nghiệp Trong lịch sử phát triển các ngành kinh tế trên thế giới, có nhiều quan ñiểm về tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp hay còn gọi chung là tiểu thủ công nghiệp (Tiếng Anh: micro and small - scale enterprise). Tùy theo ñiều kiện, bối cảnh lịch sử và ñặc ñiểm của mỗi vùng lãnh thổ nhất ñịnh, các nhà kinh tế học ñã có nhiều cách tiếp cận khác nhau, từ ñó mỗi nước ñã có những ñịnh hướng và cách nhìn nhận về phát triển tiểu, thủ công nghiệp phù hợp với ñiều kiện của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam trong chính cương của ðảng lao ñộng Việt Nam (1951) lần ñầu tiên nói ñến thuật ngữ công nghiệp, thủ công nghiệp, ban ñầu thuật ngữ này là công dụng, mặc dù các văn bản chính thức của Nhà nước chỉ dùng chung một thuật ngữ “thủ công nghiệp” nhưng ñều hiểu rằng nó bao hàm cả công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, nhiều ngành nghề trước ñây chủ yếu làm bằng tay, sử dụng các công cụ thô sơ. Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật con người ñã biết sử dụng máy móc thiết bị vào nhiều khâu, công ñoạn trong sản xuất thủ công nghiệp, chính vì vậy mà các nhà nghiên cứu ñề xuất ý kiến nên bỏ thuật ngữ “thủ công nghiệp” mà dùng thuật ngữ “tiểu công nghiệp”. Có quan niệm cho rằng; ngành nghề TTCN là ngành sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào ñôi bàn tay khéo léo của con người, các sản phẩm thủ công ñược sản xuất theo tính chất phường hội, mang bản sắc truyền thống và có những bí quyết công nghệ riêng của từng nghề, từng vùng. Quan niệm này mang tính cổ ñiển.
Trong ñiều kiện hiện nay, do trình ñộ khoa học kỹ thuật Luan van 17 phát triển nhanh chóng, trên thế giới ñã trải qua nhiều cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật; cơ khí hóa, ñiện khí hóa, quá trình công ghiệp hóa, hiện ñại hóa. Việc ñưa máy móc thiết bị vào trong sản xuất TTCN là tất yếu, một số công ñoạn sản xuất ñược ñưa máy móc thiết bị vào thay cho lao ñộng thủ công ñể nâng cao năng suất lao ñộng, vì vậy những ngành sản xuất có tính chất như trên ñược gọi là sản xuất TTCN. Thuật ngữ tiểu thủ công nghiệp hay tiểu thủ công nghiệp và thủ công nghiệp xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX. Thuật ngữ trên ra ñời ñể chỉ một nền sản xuất công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng máy móc hoặc dùng máy móc có công suất thấp ở một số công ñoạn sản xuất ñã có từ trước và cũng ñể phân biệt với nền sản xuất công nghiệp cơ khí hiện ñại tư bản chủ nghĩa ñang trên ñà phát triển.
Tổ chức phát triển công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO) cũng ñã ñề nghị thay thế khái niệm nghề thủ công (handicraft) bằng khái niệm công nghiệp truyền thống (traditional industry). Như vậy ñã chứng tỏ rằng ngành nghề TTCN cũng là mối quan tâm của nhiều tổ chức. Phát triển ngành nghề TTCN là một hướng ñi cơ bản, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Thêm nữa, nghề thủ công là nơi gặp gỡ của nghệ thuật và kỹ thuật.
Từ ñiển bách khoa của nhà xuất bản Mac Milan Conpany ñã viết: “TCN vừa là một cách thức sản xuất có tính chất công nghiệp, vừa là một dạng hoạt ñộng có tính chất mỹ thuật”. Như vậy ngành nghề TTCN còn là một trong những nơi lưu giữ và thể hiện bản sắc văn hóa dân tộc một cách ñầy ñủ và tinh tế nhất. Theo các nhà khoa học và các chuyên gia của Bộ NN & PTNT trong quá trình nghiên cứu, khảo sát ngành nghề nông thôn theo quy mô toàn quốc năm 1997 ñã ñưa ra một khái niệm khá ñầy ñủ về ngành nghề nông thôn như sau: “NNTT là những hoạt ñộng kinh tế phi nông nghiệp bao gồm TTCN, các hoạt ñộng dịch vụ sản xuất và ñời sống, có quy mô vừa và nhỏ với các thành Luan van 18 phần kinh tế như hộ gia ñình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ), các tổ chức kinh tế HTX, DNTN, Công ty TNHH. Các tổ chức hộ và cơ sở này với mức ñộ khác nhau ñều gắn kết mật thiết với nông thôn và có sử dụng các nguồn lực của nông thôn (ñất ñai, lao ñộng, nguyên liệu và các nguồn lực khác) và có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của nông thôn”.
Sản xuất TTCN ñó là những ngành sản xuất bằng tay và bằng công cụ thô sơ hoặc cải tiến có từ lâu ñời gắn với các làng nghề hoặc các hộ làm nghề, tạo ra những mặt hàng tiêu dùng truyền thống và có kỹ xảo phục vụ tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Căn cứ theo Quyết ñịnh số 132/2000/Qð TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển ngành nghề nông thôn ngày 24/11/2000 thì Sản xuất TTCN ở nông thôn ñược quy ñịnh trong quyết ñịnh này bao gồm: - Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; - Sản xuất vật liệu xây dựng, ñồ gỗ, mây tre ñan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn; - Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Ngành nghề TTCN ở Việt Nam thường ñược phát triển trong các thôn, làng, xã và ñươc gọi là làng nghề. Làng nghề ở Việt Nam có bề dày lịch sử lâu ñời, nhưng nhìn chung thì quy mô sản xuất nhỏ, lao ñộng thủ công là chủ yếu và lực lượng lao ñộng làng nghề thường mang tính chất gia ñình, không ñược ñào tạo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cha truyền con nối.
Như vậy, ngành nghề TTCN luôn gắn với các làng nghề trong quá trình cùng tồn tại và phát triển, ngành nghề TTCN là một bộ phận của ngành nghề nông thôn. Những vấn ñề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân ñều có thể ñược phản ánh trong mối quan hệ này. Luan van 19 Ngành nghề TTCN truyền thống: là những ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trọng của người dân làm nghề , là ngành nghề TTCN có từ thời thuộc pháp còn tồn tại ñến nay (nghĩa là từ khi hình thành ñến nay khoảng 100 năm trở lên), kể cả những nghề ñược cải tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện ñại ñể hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền thống. Ngành nghề TTCN mới: là những ngành nghề phi nông nghiệp mới ñược hình thành do phát triển từ các ngành nghề truyền thống hoặc tiếp thu những nghề mới ñể ñáp ứng nhu cầu của xã hội phát sinh.
Theo một số tác giả mới nghiên cứu về ngành nghề TTCN gần ñây có ñịnh nghĩa về ngành nghề TTCN như sau: “ngành nghề TTCN bao gồm những nghề TTCN có từ thời Pháp thuộc còn tồn tại ñến nay, kể cả những nghề ñược cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện ñại ñể hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghiệp truyền thống và những nghề mới xuất hiện do sự nảy sinh hoặc du nhập từ nước ngoài vào nhưng ñã thể hiện ñược trình ñộ ñặc biệt của dân tộc Việt Nam”. Tóm lại, tiểu thủ công nghiệp là ngành công nghiệp mà sản phẩm làm ra chủ yếu bằng thủ công với quy mô nhỏ. Ở ñó, hệ thống công cụ lao ñộng thô sơ ñã ñược cải tiến và thay thế bằng một phần máy móc mang tính chất công nghiệp có quy mô nhỏ (bao gồm các hộ, cơ sở sản xuất mang tính chất công nghiệp quy mô nhỏ, trang bị máy móc hoặc thủ công). Trong quá trình hoạt ñộng, các nguồn lực ñược sử dụng như lao ñộng, vốn, tài nguyên…ñể sản xuất ra nhiều loại mặt hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của xã hội và sản xuất của nhiều ngành kinh tế khác nhau.
Các chủ thể tham gia sản xuất trong các ngành TTCN là hộ gia ñình, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân , công ty trách nhiệm hữu hạn. Vị trí, vai trò của tiểu thủ công nghiệp * Vị trí của tiểu thủ công nghiệp Việt Nam ñi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu và cho ñến nay Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với gần 70% dân số ở khu vực nông thôn và trên 60% lực lượng lao ñộng sống ở nông thôn. Hơn nữa sự phân bố và sử dụng lao ñộng ở nông thôn nước ta hiện nay ñang làm gia tăng những nghịch lý, trong ñó ít nhất là ba nghịch lý lớn ñáng lo ngại là: - Nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng cần phải ñược khai thác như: ñất trống, ñồi núi trọc vào khoảng 10 triệu ha, các nguồn nước từ các ao hồ vào khoảng 1,4 triệu ha. - Sự dư thừa và thiếu lao ñộng giả tạo trong nông thôn ñang là vấn ñề nổi cộm: dư thừa lao ñộng giản ñơn, thiếu lao ñộng ñược ñào tạo và có kỹ năng nghề nghiệp cao, nhất là cho các khu công nghiệp, chế biến xuất khẩu và các xí nghiệp công nghệ cao.
- Một lực lượng lao ñộng ñáng kể ở nông thôn ñặc biệt là phụ nữ ñang phải làm việc rất vất vả và có nguy cơ thất nghiệp cao. Trong những năm qua “ñất nước ta ñã vươn lên trở thành nước có nền nông nghiệp mạnh, thuộc nhóm nước ñứng hàng ñầu về xuất khẩu nông sản”. Tuy vậy so với các nước trong khu vực và trên thế giới, năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng nông sản ở nước ta còn ở mức ñộ thấp. Tiểu thủ công nghiệp có vị trí quan trọng trong phát triển công nghiệp nông thôn, là tiền thân của ngành công nghiệp.
Phát triển TTCN sẽ góp phần sử dụng lao ñộng tại chỗ, sử dụng nguyên liệu tại ñịa phương, sản xuất ra công cụ, sản phẩm phục vụ tiêu dùng tại ñịa phương và thực hiện xuất khẩu các mặt hàng truyền thống có giá trị, thu ngoại tệ về cho ñất nước. Với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, sự nghiệp CNH - HðH nền kinh tế nước ta và tiến tới nền kinh tế tri thức thì “việc khôi Luan van 21 phục và phát triển các ngành nghề TTCN là một phương hướng CNH ở Việt Nam”. - Phát triển ngành nghề TTCN sẽ mang lại lợi ích to lớn cho ñất nước không chỉ ở chỗ tận dụng ñược nguyên liệu tại chỗ mà còn giải quyết việc làm tại chỗ cho lao ñộng nông thôn. - Góp phần quan trọng vào việc giải quyết việc làm, phân công lại lao ñộng và sử dụng hợp lý nguồn lao ñộng nông thôn.