Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN DÂN TRONG VIỆC THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ 1. Dân chủ và dân chủ ở cơ sở 1. Dân chủ * Quan niệm về dân chủ từ thời cổ đại đến trước thế kỷ XVII. Dân chủ thuộc phạm trù chính trị, có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại.
Dân chủ trong tiếng Hy Lạp, đó là nhân dân là chủ và làm chủ xã hội; đó cũng là quyền lực, là sự thống trị, nền cai trị của người bình dân; nó được biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài. Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân, là sự cai trị của nhân dân đối với xã hội. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức xã hội, thực thi quyền lực chính trị, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con người, xây dựng và phát triển xã hội. Từ khi xuất hiện cho đến nay, nội dung của khái niệm dân chủ càng ngày càng mở rộng với nhiều nội dung mới mẻ hơn, được gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài người.
Nó cũng là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu sự tiến bộ của xã hội loài người. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, dân chủ là một hiện tượng lịch sử ra đời trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội. Mác và Ăngghen cho rằng: dân chủ là một hình thức nhà nước, và hơn thế còn là một chế độ xã hội. Không thể có một chế độ dân chủ chung chung, mà chỉ có một chế độ dân chủ có tính giai cấp, cũng như nhà nước luôn có tính giai cấp.
Thích ứng với chế độ dân chủ là một kiểu nhà nước dân chủ và ngược lại. Khi giai cấp và nhà nước thay đổi thì tính chất của dân chủ cũng thay đổi, khi giai 11 cấp và nhà nước không còn thì dân chủ với tính cách là một hình thức nhà nước cũng không còn. Kế thừa Mác và Ăngghen, Lênin cho rằng: dân chủ là một chế độ nhà nước, nên dân chủ mang tính giai cấp. Dân chủ tồn tại dưới những hính thức cụ thể, biến đổi cùng với sự thay đổi của phương thức sản xuất và kết cấu giai cấp của xã hội, vì vây nó có quá trình tiến hóa lâu dài qua các hình thái kinh tế - xã hội.
Trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, cuộc sống của con người là hái lượm từ tự nhiên. Để tồn tại và phát triển, con người buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng, sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực hiện quyền sống. “Toàn thể các thành viên của thị tộc đều là những người tự do, có nghĩa vụ bảo vệ tự do của nhau; họ đều có những quyền cá nhân ngang nhau – cả Tù trưởng và Thủ lĩnh quân sự đều không đòi hỏi những quyền ưu tiên nào cả, họ kết thành một tập thể thân ái, gắn bó với nhau bởi những quan hệ dòng máu. Tự do, bình đẳng, bác ái tuy chưa bao giờ được nêu thành công thức, nhưng vẫn là nguyên tắc cơ bản của thị tộc”1.
Quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, chế độ Công xã nguyên thủy tan ra, chế độ Chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất ra đời, cùng với đó là sự xuất hiện giai cấp và một bộ máy quyền lực thuộc về giai cấp thống trị - đó là Nhà nước. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước đã thể hiện sự tham vọng, đặc quyền đứng trên xã hội để giải quyết những vấn đề xã hội. Giai cấp thống trị nhân danh xã hội chiếm đoạt Nhà nước, biến Nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lợi chính trị của mình và thực hiện dân chủ cho giai cấp thống trị. Theo quy luật phát triển của xã hội loài người, Hình thái kinh tế xã hội sau bao giờ cũng cao hơn, tiến bộ hơn Hình thái kinh tế xã hội trước.Ăngghen, Toàn tập.
Tập 21, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, Tr. 136 12 có nghĩa rằng, kiểu Nhà nước sau bao giờ cũng tiến bộ hơn kiểu Nhà nước trước, hay chế độ dân chủ sau bao giờ cũng cao hơn chế độ dân chủ của xã hội trước đó. Ở thời kỳ cổ đại, việc hình thành và phát triển chế độ Nô lệ đã sản sinh ra những tầng lớp công dân tự do. Điển hình là tại Aten – Hy Lạp, số công dân tự do này có sự độc lập tương đối về kinh tế và quân sự, được nuôi dưỡng và khuyến khích bởi các cách thức dân chủ trong tổ chức và đời sống cộng đồng.
Họ họp nhau lại, tổ chức đại hội nhân dân, bầu cử các quan chức cộng đồng thực hiện chức năng chấp hành của Đại hội nhân dân, thay mặt nhân dân quản lý công việc hàng ngày. Đại hội nhân dân còn làm nhiệm vụ lập pháp, xét xử và quyết định các công việc trọng đại của thành bang. Có thể nói Aten là đỉnh cao của sự hình thành và phát triển dân chủ thời bấy giờ. Tuy nhiên, nền dân chủ Aten chỉ tồn tại khoảng hai thế kỷ và trong phạm vi thành bang nhỏ với số dân cư rất ít (khoảng 30.
Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ Aten là quyền lực nhà nước không nằm trong tay một thiểu số mà thuộc về toàn thể nhân dân, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; công dân được sắp đặt trách nhiệm công cộng theo khả năng thực tế; mọi công dân đều có thể tham gia vào đời sống chính trị; công dân tự do và bao dung trong đời sống riêng, nhưng lại duy trì và tuân thủ pháp luật trong đời sống công cộng; công dân không chỉ quan tâm đến công việc riêng, mà còn quan tâm đến công việc nhà nước. Các quá trình của nhà nước đều dựa trên sự thừa nhận quyền bình đẳng của của công dân trong việc tự do tranh luận về các vấn đề công cộng. Chính sự thống nhất, đoàn kết và sự tham gia tích cực của người dân vào công việc của nhà nước tạo ra sự độc đáo của nền dân chủ Aten. Từ thế kỷ thứ I sau Công nguyên, thế gới quan Kito giáo và tư tưởng thần học ngự trị.
Khả năng phán xét và tham chính tích cực của người công dân bị lòng tin giáo điều chi phối, phục tùng ý Chúa. Tư tưởng bình đẳng 13 chính trị chỉ được giữ lại trong phạm vi hẹp, phục vụ cho sự cai trị của chế độ phong kiến, nông nô kéo dài 10 thế kỷ. Thời kỳ này không có chỗ cho việc suy tưởng về dân chủ. Cuối thế kỷ XI, nền cộng hòa bắt đầu được phục hồi, trước hết là một số đô thị ở vùng miền Bắc Italia.
Trong nền cộng hòa đô thị đó, một số cải cách về nhà nước được thực hiện; các chức vụ trong chính quyền đều do dân bầu cử theo nhiệm kỳ và chịu trách nhiệm trước nhân dân. Mô hình mới này đánh vào tư tưởng thần học, coi nhà nước là của Chúa ban tặng. Mô hình đó cũng đã thôi thúc người dân chống lại tư tưởng thần quyền và khẳng định vai trò của người dân trong quyết định công việc của mình. Đến giữa thế kỷ XIII, thuật ngữ “dân chủ” mới bắt đầu trở thành ngôn từ chính trị của châu Âu do có sự tái xuất hiện tác phẩm chính trị của Arixtôt.
Cốt lõi của dân chủ lúc này là tư tưởng về quyền tự trị của công dân, người cai trị là người đại diện hay những người thi hành công lý. Nhà nước có chức năng điều chỉnh sao cho mọi công dân đều có thể sống tốt và hiện thực hóa được các cơ hội mà họ có. Nhân dân là người lập pháp tối cao, ước nguyện của nhân dân là cơ sở phán quyết cuối cùng cho mọi định hướng mà cộng đồng muốn hướng tới. * Dân chủ dưới chế độ tư bản chủ nghĩa Từ thế kỷ XVII – XVIII, xã hội tư bản chủ nghĩa ra đời cùng với sự ra đời của nhà nước tư sản với mô hình tổ chức theo hình thức chính thể cộng hòa thì lịch sử của nền dân chủ có bước tiến bộ mới.
Các nhà tư tưởng đã dựa trên lập trường tư sản, đã đề xuất nhiều lý thuyết về dân chủ, nhưng nhìn chung họ đều thống nhất ở tư tưởng về quyền tự nhiên của con người, nhất là quyền tự do và quyền sở hữu. Với các quyền tự nhiên bất khả xâm phạm đó, các cá nhân hợp thành xã hội công dân, tạo thành nền tảng của quốc gia. Sự ra đời của nền dân chủ tư sản đánh dấu một bước tiến đáng kể trong quá trình dân chủ hóa trong xã hội loài người. Trong quá trình phát triển, nền dân chủ 14 tư sản đã để lại những tư tưởng tiến bộ về dân chủ.
Đó là tư tưởng về xã hội công dân, về nhà nước pháp quyền, là sự phát triển của quyền con người và quyền công dân, là những tư tưởng về thể chế đảm bảo dân chủ. Từ đây hình thành mô hình dân chủ tự do với hai biến thể của nó là: dân chủ bảo hộ và dân chủ phát triển. Mô hình dân chủ bảo hộ cho rằng, con người là một thực thể tư lợi, do đó cần tạo ra các thể chế có trách nhiệm để không bị người khác thống trị. Đại diện cho tư tưởng này là Lốccơ, Người cho rằng, các thể chế nhà nước nên được xem là công cụ để bảo vệ cuộc sống, tự do và tài sản của công dân.
Sự hình thành nhà nước không phải là sự ủy quyền toàn bộ quyền cá nhân cho lĩnh vực chính trị. Quyền lập pháp và hành pháp được chuyển giao, nhưng các quá trình này đều bị chế định bởi một mục tiêu cốt lõi là bảo vệ cuộc sống, tự do và của cải của các cá nhân. Quyền lực chính trị tối cao vẫn ở phía người dân. Lý thuyết dân chủ phát triển, đại biểu tiêu biểu là Rútxô đề cao chủ quyền tối thượng của nhân dân, không phân biệt nô lệ và dân tự do, với quyền tự nhiên của con người và khế ước xã hội.
Một trong những mục tiêu của nhà nước là phát triển tự do của con người, phát triển mọi năng lực của con người thông qua cơ chế dân chủ trực tiếp của tất cả các công dân. Mọi công dân phải tham dự trực tiếp vào quá trình sáng tạo luật pháp nhằm quy định và điều chỉnh cuộc sống của mình. Người bị cai trị phải là người cai trị.