CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG VÀ DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT 1. DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG (VTHKCC) 1. Khái niệm Vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) nói chung và vận tải đô thị nói riêng là những phương thức phục vụ các nhu cầu đi lại của người dân mà họ không tự thực hiện được. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về vận tải công cộng.
Trong đó có hai khái niệm phổ biến nhất: Vận tải hành khách công cộng, được hiểu theo nghĩa rộng, đó là một hoạt động, trong đó sự vận chuyển là một dịch vụ mà nhà nước, doanh nghiệp cung cấp cho hành khách để thu tiền cước bằng những phương tiện vận tải hành khách công cộng. Như vậy, vận tải hành khách công cộng bao gồm cả vận tải hành khách liên tỉnh, vận tải hành khách nội tỉnh, taxi, … Theo nghĩa hẹp, VTHKCC là loại hình vận chuyển trong đô thị, có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và theo tuyến cố định trong từng thời kỳ, như xe buýt, xe điện ngầm, xe điện trên cao. Vuchic, đại học Pennsylvania, định nghĩa trong nghiên cứu về “VTHKCC trong đô thị” (1981) thì VTHKCC là dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan công cộng hoặc tư nhân dành cho tất cả những người trả tiền vé theo quy định. Trong khu vực đô thị, hệ thống giao thông công cộng điển hình là xe buýt, xe điện chở hành khách, LRT, tàu điện ngầm, đường sắt khu vực và các chế độ khác theo quy định hoạt động trên dòng / tuyến đường đã thiết lập và lịch trình đã thông báo.
Luan van 2 Ngoài khái niệm trên, VTHKCC còn có rất nhiều khái niệm khác như: VTHKCC là một loại hoạt động trong đó sự vận chuyển được cung cấp cho hành khách để thu tiền cước bằng những phương tiện không phải của họ [8]. Theo bài giảng Quy hoạch giao thông vận tải đô thị của TS. Khuất Việt Hùng (2009), VTHKCC đô thị được hiểu là các phương thức phục vụ nhu cầu vận động của hành khách trong không gian đô thị và vùng ngoại ô liền kề” [5]. Tóm lại, VTHKCC là các loại hình vận tải có thu tiền cước theo giá quy định, hoạt động trên hành trình và theo biểu đồ quy định nhằm phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân trong thành phố và các vùng phụ cận.
Vai trò của VTHKCC đô thị Cùng với đô thị hóa, vai trò của VTHKCC ngày càng trở nên quan trọng. Một hệ thống VTHKCC hoạt động có hiệu quả là động lực thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Ngược lại một hệ thống VTHKCC yếu kém sẽ gây cản trở đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia. Vai trò của VTHKCC được thể hiện trên các phương diện cụ thể sau: - VTHKCC tạo thuận lợi cho sự phát triển chung của đô thị: Đô thị hóa luôn gắn liền với việc phát triển các khu dân cư, khu công nghiệp, thương mại, kèm theo cả sự gia tăng về diện tích và dân số đô thị.
Từ đó dẫn đến xuất hiện các quan hệ vận tải với công suất lớn và khoảng cách xa. Khi đó chỉ có hệ thống VTHKCC nhanh, sức chứa lớn mới có thể đáp ứng được nhu cầu đó. Ngược lại, nếu không thiết lập được một mạng lưới VTHKCC hợp lý, tương ứng với nhu cầu, thì sức ép về giải quyết mối giao lưu giữa các khu chức năng đô thị phân bố cách xa trung tâm với công suất luồng hành khách lớn sẽ là lực cản đối với quá trình đô thị hóa. Giới hạn không gian đô thị càng mở rộng thì vai trò của VTHKCC càng thể hiện rõ qua việc rút ngắn thời gian Luan van 3 đi lại và đáp ứng nhu cầu của dòng hành khách công suất lớn.
- VTHKCC là nhân tố chủ yếu để tiết kiệm thời gian đi lại của người dân, góp phần nâng cao năng suất lao động xã hội: Trong đô thị, tần suất đi lại cao và cự ly đi lại bình quân lớn nên tổng hao phí thời gian đi lại của một người dân là đáng kể. Nếu lấy mức đi lại bình quân của một người trong thành phần đi lại tích cực của Hà Nội là 2,2 – 2,5 chuyến/người/ngày và thời gian một chuyến đi là 50 phút thì hao phí thời gian đi lại chiếm 15 – 20% tổng quỹ thời gian lao động tích cực. Ảnh hưởng rõ rệt và trực tiếp của VTHKCC là tác động đến việc tăng năng suất lao động xã hội. Theo tính toán của các chuyên gia giao thông đô thị: Nếu mỗi chuyến xe chậm đi 10 phút thì dẫn đến tổng năng suất lao động xã hội giảm đi từ 2,5 – 4%.
Năng suất lao động của công nhân có cự ly đi làm 5km giảm 12% và trên 5km giảm từ 10 – 25% so với những công nhân sống gần nơi làm việc (chỉ cần đi bộ). - VTHKCC đảm bảo an toàn và giữ gìn sức khỏe cho người đi lại: An toàn giao thông gắn liền với hệ thống phương tiện vận tải và cơ sở hạ tầng kỹ thuật giao thông. Hàng năm trên thế giới có khoảng 800.000 người thiệt mạng do tai nạn giao thông. Riêng Việt Nam, mỗi năm xảy ra từ 8.000 vụ tai nạn giao thông làm thiệt mạng từ 3.000 người, trong đó tỷ lệ đáng kể thuộc hệ thống giao thông đô thị.
Ở các thành phố nước ta, do số lượng phương tiện giao thông cá nhân như xe máy gia tăng quá nhanh, dẫn đến mật độ xe dày đặc cùng tình trạng kẹt xe nghiêm trọng. Đó là nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông ở nước ta. - VTHKCC góp phần bảo vệ môi trường đô thị: Không gian đô thị thường chật hẹp, mật độ dân cư cao, trong khi phương tiện cá nhân lại dày đặc. Vì vậy VTHKCC phải gắn liền với các giải pháp bảo vệ môi trường.
VTHKCC là một trong những giải pháp hữu hiệu Luan van 4 nhằm làm giảm tác động xấu đến môi trường. Vì khi sử dụng những phương tiện VTHKCC sẽ làm giảm lượng phương tiện cá nhân lưu thông trên đường như ô tô, xe máy… Như vậy việc sử dụng phương tiện VTHKCC sẽ giúp giảm lượng khí thải độc hại ra môi trường, giảm mật độ bụi và chống ùn tắc giao thông… - VTHKCC đảm bảo an toàn trật tự và ổn định: Với số km mà mỗi người ở thành thị đi vào ngày làm việc và số lần đi, nếu sử dụng quá nhiều phương tiện cá nhân sẽ dẫn đến hiện tượng ách tắc giao thông. Từ đó sẽ dẫn đến những ảnh hưởng xấu đến khả năng làm việc, tâm lý, sức khỏe của người lao động và ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế, trật tự an toàn và ổn định xã hội. - VTHKCC góp phần tiết kiệm quỹ đất đô thị: Diện tích chiếm dụng đường tính trung bình cho mỗi chuyến đi bằng ô tô buýt là 1.5m2, trong khi đó đối với xe máy là 10 – 12m2, xe con là 18 – 20m2.
Nếu như tất cả mọi người đều chuyển sang dùng phương tiện VTHKCC thì sẽ tiết kiệm được 20 - 25m2 diện tích đường dành cho giao thông. Phương tiện vận tải hành khách công cộng đô thị Khi đô thị phát triển đến một mức độ nào đó, dân số đông, lưu lượng hành khách đi lại trên đường lớn, việc sử dụng phương tiện cá nhân trở nên quá tải, không thích hợp, mật độ hành khách lớn, đô thị trở nên chật chội đông đúc, ùn tắc thường xảy ra, việc đưa phương tiện VTHKCC vào phục vụ hành khách trở nên rất cần thiết. Tùy thuộc vào trình độ phát triển và khả năng kỹ thuật, tài chính mà đô thị có thể lựa chọn các phương tiện VTHKCC như sau: Luan van 5 PHƯƠNG TIỆN VTHKCC Xe Tàu Tàu Tàu Ô tô Xe Taxi Xe Xích Xe điện khách điện điện buýt điện lam lô thô bánh chạy ngầm trên bánh sơ sắt điện cao hơi Vận tải đường ray Vận tải không ray Hình 1. Các phương tiện VTHKCC trong đô thị.
Nguồn: Bài giảng tổ chức vận tải hành khách trong thành phố - PGS.TS Từ Sỹ Sùa Trong các loại phương tiện trên, xe buýt vẫn là loại phương tiện thông dụng nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc vận chuyển hành khách ở những vùng đang phát triển của đô thị, những khu vực trung tâm, đặc biệt những đô thị cổ. Kinh nghiệm phát triển giao thông của các đô thị trên thế giới cho thấy rằng, ở các thành phố quy mô dân số < 500.000 dân thì xe buýt là phương thức đi lại chủ yếu của người dân. Luan van 6 Bảng 1. Quy mô dân số và phương tiện đi lại chủ yếu Dân số đô thị Phương tiện giao thông chính (1.000 dân) <100 Xe đạp, xe máy, ô tô buýt Từ 100 đến 250 Ô tô buýt, xe điện bánh hơi, xe đạp, xe máy, taxi Từ 250 đến 500 Tàu điện, ô tô buýt, xe điện bánh hơi, xe đạp, xe máy, taxi Từ 500 đến 1.000 Tàu điện, ô tô buýt, xe điện bánh hơi, xe đạp, xe máy, taxi và một số loại hình giao thông ngoài mặt đường phố (tàu điện ngầm, đường sắt trên cao) >1.000 Giao thông ngoài mặt đường phố (tàu điện ngầm, đường sắt trên cao) kết hợp với các loại PT giao thông đường phố.
Nguồn: Nghiên cứu quy hoạch tổng thể giao thông đô thị và xem xét tính khả thi đối với TP.HCM, 2004 Các thành phố như Băng cốc, Seoul, Hồng kong, các chuyến đi bằng xe buýt chiếm tới 50-70%, các thành phố hiện đại như London, NewYork tỷ lệ chuyến đi bằng tàu điện ngầm đến 70%, tỷ lệ chuyến đi bằng xe buýt ở mức trên dưới 20%. Các đô thị vừa và nhỏ, vận tải xe buýt thường đảm nhận 60 đến 80% khối lượng vận chuyển của cả hệ thống VTHKCC. Vận tải xe buýt thường có vốn đầu tư nhỏ nhất so với các loại hình VTHKCC khác, chi phí khai thác tương đối thấp, thích hợp với phần lớn với khách có thu nhập thấp và trung bình. Ngoài chức năng vận chuyển hành khách độc lập, xe buýt còn có khả năng làm cầu nối giữa các phương thức vận tải trong hệ thống VTHKCC, đảm bảo sự liên thông trong hệ thống VTHKCC ở các đô thị.
DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG (VTHKCC) BẰNG XE BUÝT 1. Khái niệm Xe buýt là phương tiện VTHKCC phổ biến nhất hiện nay. Xe buýt đầu tiên được đưa vào khai thác ở thủ đô Luân Đôn (Anh) vào năm 1900.