Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây Bò khai có tên khoa học là Erythropalum scandens Blume, thuộc họ Dây hương (Erythropalaceae), bộ Đàn hương (Santalales), lớp Hai lá mầm (Magnoliopsida), ngành Hạt kín (Magnoliophyta). Trong dân gian, loài thực vật này còn có các tên gọi khác như rau Hiến, Dạ Yến, Khau hương, Phắc hiến (tiếng Tày), Nèo tùm (tiếng Nùng), hay Lò Châu Sói (tiếng Dao). Cây phân bố tự nhiên ở vùng nhiệt đới châu Á (Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Việt Nam), đặc biệt tập trung tại các tỉnh vùng núi phía Bắc Việt Nam như Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang ở độ cao từ 100 m đến 1.500 m.

Bò khai là loài lâm sản ngoài gỗ (LSNG) đa tác dụng, vừa là loại rau rừng đặc sản giàu dinh dưỡng (trong 100 g ngọn tươi chứa 78,8 g nước, 6 g protein, 7,5 g chất xơ, 1,6 g tro, 138 mg canxi, 40,7 mg phốt pho, 2,6 mg carotene và 60 mg vitamin C), vừa là nguồn dược liệu quý dùng để hỗ trợ điều trị các bệnh về gan, thận, đường tiết niệu, chứng nước tiểu vàng, sốt và tê thấp. Do giá trị thương phẩm cao (giá bán ngọn non từ 15.000 đến 20.000 đồng/kg trên thị trường vùng cao), nguồn tài nguyên Bò khai tự nhiên trong các khu rừng thứ sinh và núi đá vôi đang bị khai thác quá mức.

Việc nhân giống bằng hạt gặp nhiều trở ngại do tỷ lệ nảy mầm không ổn định (hạt lứa 1 chỉ đạt 47,5%, hạt lứa 2 đạt 82,6%), quả chín dễ bị chim thú ăn phá và thời gian sinh trưởng kéo dài. Phương pháp nhân giống sinh dưỡng bằng giâm hom được xem là giải pháp kỹ thuật tối ưu để sản xuất số lượng lớn cây giống đồng đều, giữ nguyên đặc tính di truyền của cây mẹ. Tuy nhiên, khả năng ra rễ và tỷ lệ sống của hom giâm phụ thuộc chặt chẽ vào các biện pháp kỹ thuật lâm sinh, đặc biệt là loại giá thể nuôi dưỡng. Đề tài được thực hiện nhằm giải quyết bài toán lựa chọn giá thể phù hợp cho quá trình nhân giống loài cây này.

Mục đích nghiên cứu: Góp phần vào việc nghiên cứu sản xuất cây rau bò khai bằng phương pháp giâm hom, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của con người.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm:

  1. Tìm hiểu kỹ thuật sản xuất giống cây Bò khai.
  2. Xác định được công thức giá thể có ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây Bò khai.
  3. Góp phần lựa chọn biện pháp kỹ thuật tốt nhất chăm sóc hom, cây con Bò khai bằng phương pháp giâm hom.

Đối tượng, phạm vi, không gian và thời gian nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Bò khai (Erythropalum scandens Blume).
  • Phạm vi nghiên cứu: Đánh giá ảnh hưởng của 2 loại giá thể đơn lẻ (tầng đất B và tầng đất A mùn dưới tán rừng) đến khả năng ra rễ và ra chồi của hom giâm khi sử dụng cùng một loại chất kích thích ra rễ là ABT nồng độ 0,25%.
  • Địa bàn nghiên cứu: Thôn Hoa Sơn, xã Chân Sơn, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang (khu vực đồi núi có diện tích đất lâm nghiệp chiếm 72,6% diện tích tự nhiên, khí hậu chia thành 2 mùa với nhiệt độ trung bình mùa hè khoảng 28°C, mùa đông 16°C, độ ẩm trung bình 82%).
  • Thời gian nghiên cứu: Thực hiện từ ngày 05/10/2014 đến ngày 25/12/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng trên nền tảng sinh học thực vật và kỹ thuật lâm sinh nhân giống vô tính:

  • Cơ sở tế bào học và di truyền học: Quá trình nhân giống sinh dưỡng dựa trên cơ chế phân bào nguyên nhiễm (nguyên phân), tạo ra cây con mang đầy đủ bộ nhiễm sắc thể và đặc tính di truyền đồng nhất từ cây mẹ, duy trì ưu thế lai và rút ngắn chu kỳ sinh trưởng so với cây gieo từ hạt.
  • Cơ chế sinh lý hình thành rễ bất định: Rễ bất định hình thành qua 3 giai đoạn sinh lý liên tiếp gồm: (1) Các tế bào tại vết cắt chết đi, hình thành màng keo bảo vệ chống mất nước; (2) Các tế bào sống liền kề phân chia tạo lớp mô sẹo (callus); (3) Tế bào vùng tầng phát sinh (thượng tầng) hoặc vùng libe phân hóa để hình thành mầm rễ mới.
  • Các nhân tố tác động: Sự ra rễ chịu sự chi phối của nhân tố nội sinh (tuổi cây mẹ, trạng thái cành bánh tẻ 5-6 tháng tuổi, hàm lượng auxin nội sinh, đồng nhân tố) và nhân tố ngoại cảnh (nhiệt độ không khí thích hợp 28-33°C, nhiệt độ giá thể 25-30°C, độ ẩm giá thể duy trì 50-70%, ánh sáng tán xạ 15% trong giai đoạn đầu, độ thông thoáng và độ chua pH 6-7 của giá thể).
  • Cơ sở kế thừa: Tác giả tổng hợp các công trình nghiên cứu về lâm sản ngoài gỗ (Hội nghị UNCED 1992, tài liệu bảo tồn của WHO, IUCN, WWF), các nghiên cứu giâm hom cây rừng tại Việt Nam (Lê Đình Khả, Phạm Văn Tuấn, Ngô Quốc Luật), các khảo nghiệm sinh học của Dương Hữu Phùng, thực nghiệm bổ sung đá vôi của Trần Văn Dũng (2007) và tài liệu của Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm một nhân tố gồm 2 công thức (CTTN) với 3 lần nhắc lại:
    • Công thức 1 (CT1): Giá thể đóng bầu là tầng đất B (đất cái tầng dưới đã qua rây sàng).
    • Công thức 2 (CT2): Giá thể đóng bầu là tầng đất A (đất mùn mặt dưới tán rừng tự nhiên qua rây sàng).
    • Quy mô: Mỗi công thức sử dụng 90 hom giâm (30 hom cho mỗi lần nhắc lại), tổng dung lượng mẫu khảo nghiệm là 180 hom.
  • Chuẩn bị vật liệu và giá thể:
    • Khử trùng giá thể: Tưới nước vôi trong nồng độ 0,1% trực tiếp vào bầu trước khi cấy hom 12 giờ, sau đó tưới lại bằng nước sạch.
    • Bầu ươm: Túi bầu PE kích thước đường kính 8 cm, chiều cao 20 cm (Ø8 x 20 cm).
    • Chọn hom: Thu hái từ cành bánh tẻ khỏe mạnh 5-6 tháng tuổi, không sâu bệnh, đường kính thân 0,5-1,0 cm; cắt đoạn dài 15-18 cm chứa 3 đốt, vết cắt vát góc 45°; cắt bỏ 1/2 đến 2/3 diện tích phiến lá và loại bỏ toàn bộ chồi nách có sẵn.
    • Chất điều hòa sinh trưởng: Chấm trực tiếp gốc hom vào thuốc kích thích ra rễ ABT (Aminobenzotriazole) dạng bột nồng độ 0,25% ngay sau khi cắt.
    • Nhà giâm: Luống giâm rộng 1,0-1,2 m, làm khung vòm tre cao 80-120 cm phủ nilon trắng giữ ẩm và lưới đen cản quang.
  • Quy trình chăm sóc và luyện sáng theo giai đoạn sinh trưởng:
    • Giai đoạn 1-10 ngày: Phun sương 2 lần/ngày (lượng nước 1-2 lít/m²), che phủ kín giữ ánh sáng ở mức 15%.
    • Giai đoạn 10-15 ngày: Tưới 1 lần/ngày (1,5 lít/m²), duy trì độ ẩm 70-80% để kích thích liền sẹo.
    • Giai đoạn 15-58 ngày: Tưới định kỳ 1-2 ngày/lần (2 lít/m²), bắt đầu mở hé vòm nilon từ ngày 21 và tháo dần vật liệu che để cây quen ánh sáng tự nhiên.
    • Giai đoạn trên 58 ngày: Tưới 3-4 ngày/lần (3 lít/m²), tháo bỏ hoàn toàn nilon và dàn che trực tiếp để huấn luyện cây con trước khi xuất vườn.

Phương pháp thu thập và xử lý số liệu thống kê:

  • Theo dõi định kỳ: Đếm số hom sống sau 20 ngày, 40 ngày và 60 ngày kể từ khi cắm hom.
  • Đo đếm cuối kỳ (ngày thứ 60): Xác định số hom sống, số hom ra rễ, số lượng rễ/hom, chiều dài rễ (cm), số lượng chồi/hom, chiều dài chồi (cm).
  • Công thức tính các chỉ số tổng hợp:
    • $\text{Tỷ lệ hom sống (%)} = \left( \frac{\sum \text{Số hom sống}}{\sum \text{Số hom thí nghiệm}} \right) \times 100$
    • $\text{Tỷ lệ hom ra rễ (%)} = \left( \frac{\sum \text{Số hom ra rễ}}{\sum \text{Số hom thí nghiệm}} \right) \times 100$
    • $\text{Chỉ số ra rễ} = \text{Số rễ trung bình/hom} \times \text{Chiều dài rễ trung bình/hom}$
    • $\text{Chỉ số ra chồi} = \text{Số chồi trung bình/hom} \times \text{Chiều dài chồi trung bình/hom}$
  • Xử lý thống kê: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính các giá trị trung bình, thực hiện phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA Single Factor) ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ để kiểm định giả thuyết thống kê, kết hợp tính sai dị bảo đảm nhỏ nhất (LSD - Least Significant Difference) nhằm so sánh mức độ vượt trội giữa các công thức.

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của việc nhân giống cây Bò khai trong bối cảnh nhu cầu rau đặc sản và dược liệu gia tăng; phân tích ưu điểm vượt trội của phương pháp nhân giống vô tính bằng giâm hom so với gieo hạt truyền thống; xác định rõ mục đích, 3 mục tiêu cụ thể và ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của đề tài đối với ngành Lâm nghiệp.

Phần 2: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tổng hợp toàn diện cơ sở lý luận về tế bào học, di truyền học và cơ chế phân hóa mô hình thành rễ bất định; phân tích tác động của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh đến hom giâm; điểm luận các công trình nghiên cứu nhân giống LSNG trên thế giới và tại Việt Nam; cung cấp dẫn liệu về đặc điểm thực vật học, sinh thái học, giá trị dinh dưỡng, công dụng chữa bệnh của cây Bò khai cùng điều kiện tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng thực nghiệm là Erythropalum scandens Blume, địa bàn và thời gian thực hiện; mô tả chi tiết sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 công thức giá thể (tầng đất B và tầng đất A) với 3 lần lặp lại; quy chuẩn hóa kỹ thuật cắt chọn hom bánh tẻ, xử lý nồng độ thuốc ABT 0,25%, khử trùng vôi bột 0,1%; thiết lập quy trình 4 giai đoạn chăm sóc, tưới ẩm, điều tiết ánh sáng; thiết kế hệ thống biểu mẫu thu thập số liệu ngoại nghiệp và quy trình toán học xử lý thống kê ANOVA, kiểm định LSD trên máy tính.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Trình bày số liệu thực nghiệm chi tiết qua các bảng biểu: theo dõi diễn biến tỷ lệ hom sống ở các mốc 20, 40, 60 ngày; phân tích các chỉ tiêu phát triển rễ (tỷ lệ ra rễ, số rễ, chiều dài rễ, chỉ số ra rễ) và kết quả phân tích phương sai ANOVA một nhân tố; đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng chồi (tỷ lệ ra chồi, số chồi, chiều dài chồi, chỉ số ra chồi); tổng kết so sánh hiệu quả sinh học giữa hai loại giá thể.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện chính của khóa luận, khẳng định giá thể tầng đất B đem lại hiệu quả sinh trưởng toàn diện cho hom Bò khai; đưa ra khuyến nghị ứng dụng công thức vào thực tế sản xuất cây giống lâm nghiệp và đề xuất hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.


Kết quả và đóng góp nghiên cứu

Kết quả định lượng chính từ thực nghiệm

Thí nghiệm giâm hom cây Bò khai tại thôn Hoa Sơn, xã Chân Sơn qua 60 ngày theo dõi đã ghi nhận các kết quả cụ thể sau:

Chỉ tiêu theo dõi Công thức 1 (Tầng đất B) Công thức 2 (Tầng đất A) Bình quân chung
Số hom thí nghiệm ban đầu (hom) 90 90 180
Tỷ lệ sống sau 20 ngày (%) 63,33 54,44 58,89
Tỷ lệ sống sau 40 ngày (%) 55,56 52,22 53,89
Tỷ lệ sống sau 60 ngày (%) 52,22 47,78 50,00
Số hom sống ở ngày thứ 60 (hom) 47 43 90
Số hom ra rễ ở ngày thứ 60 (hom) 47 43 90
Tỷ lệ ra rễ trên tổng hom thí nghiệm (%) 52,22 47,78 50,00
Số rễ trung bình/hom (rễ) 5,17 4,18 4,68
Chiều dài rễ trung bình/hom (cm) 2,80 2,01 2,41
Chỉ số ra rễ 14,48 8,40 11,44
Số hom ra chồi ở ngày thứ 60 (hom) 47 43 90
Tỷ lệ ra chồi trên tổng hom thí nghiệm (%) 52,22 47,78 50,00
Số chồi trung bình/hom (chồi) 1,29 1,18 1,24
Chiều dài chồi trung bình/hom (cm) 12,36 8,26 10,31
Chỉ số ra chồi 15,90 9,70 12,80

Nguồn: Tổng hợp từ các bảng số liệu thực nghiệm 4.1, 4.2, 4.3, 4.5 trong khóa luận.

Phân tích thống kê đối với chỉ số ra rễ:

  • Phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA) cho thấy giá trị thực nghiệm $F_{A} = 268,7$, lớn hơn rất nhiều so với giá trị lý thuyết $F_{05}$ (tra bảng $F_{crit} = 7,71$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$). Do đó, giả thuyết vô hiệu $H_0$ bị bác bỏ, khẳng định các loại giá thể khác nhau có ảnh hưởng không đồng đều và tạo ra sự sai khác rõ rệt lên chất lượng hệ rễ của hom Bò khai.
  • Chỉ tiêu sai dị bảo đảm nhỏ nhất tính được là $\text{LSD} = 2,024$. Hiệu số trung bình giữa hai công thức $|x_1 - x_2| = |14,48 - 8,40| = 6,08 > \text{LSD}$, chứng minh công thức 1 (sử dụng giá thể tầng đất B) có tác động vượt trội có ý nghĩa thống kê so với công thức 2 (giá thể tầng đất A).

Giải pháp và khuyến nghị kỹ thuật của tác giả

  • Về lựa chọn giá thể: Khuyến nghị người ươm giống nên sử dụng tầng đất B làm giá thể đóng bầu giâm hom cây Bò khai thay vì dùng đất mùn tầng A. Đất tầng B sạch nguồn nấm bệnh hơn, tạo môi trường ổn định giúp rễ bám chắc, kích thích số lượng rễ ra nhiều hơn (5,17 rễ/hom so với 4,18 rễ/hom) và chiều dài rễ vươn dài hơn (2,80 cm so với 2,01 cm).
  • Về chế độ chăm sóc: Tuân thủ quy trình xử lý giá thể bằng nước vôi trong 0,1% trước 12 giờ; sử dụng thuốc kích thích ABT 0,25%; duy trì chế độ phun sương và luyện sáng qua 4 giai đoạn cụ thể để đảm bảo tỷ lệ sống xuất vườn đạt trên 52%.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu thực nghiệm có kiểm chứng khoa học và định lượng hóa bằng các chỉ số phát triển rễ, chồi đối với loài cây Erythropalum scandens Blume tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang.
  • Xác lập cơ sở lựa chọn tầng đất B làm giá thể kinh tế, dễ kiếm tại chỗ, giảm thiểu chi phí sản xuất cây giống lâm nghiệp cho người dân vùng miền núi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận đã thẳng thắn ghi nhận một số hạn chế gắn liền với điều kiện và phạm vi nghiên cứu:

  • Hạn chế về phạm vi giá thể: Đề tài mới chỉ dừng lại ở việc khảo nghiệm so sánh 2 loại giá thể đất đơn thuần (tầng đất A và tầng đất B), chưa tiến hành thử nghiệm các tổ hợp giá thể phối trộn thông dụng khác như cát tinh khiết, xơ dừa băm nhỏ, mùn cưa mục hoặc tro trấu.
  • Hạn chế về chất điều hòa sinh trưởng: Khóa luận chỉ thử nghiệm một loại chất kích thích là ABT ở một mức nồng độ cố định 0,25%, chưa so sánh đối chứng với các chất điều hòa sinh trưởng phổ biến khác (IBA, NAA) ở các thang nồng độ khác nhau.
  • Hạn chế về thời gian và địa bàn: Thí nghiệm thực hiện trong thời gian 3 tháng vụ đông (tháng 10 đến tháng 12) tại một địa bàn duy nhất (thôn Hoa Sơn, xã Chân Sơn, Yên Sơn, Tuyên Quang), chưa khảo nghiệm qua các mùa vụ khác nhau trong năm và chưa theo dõi tiếp sinh trưởng của cây con sau giai đoạn xuất vườn đưa ra trồng rừng hoặc trồng vườn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục khảo nghiệm các công thức giá thể hỗn hợp (đất trộn cát, mùn cưa, xơ dừa) để tối ưu hóa độ xốp và khả năng thoát nước.
  • Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại chất kích thích ra rễ khác nhau (IBA, NAA) với các dải nồng độ biến thiên trên hom Bò khai.
  • Mở rộng thử nghiệm giâm hom vào các thời vụ khác trong năm (vụ xuân, vụ hè thu) và theo dõi khả năng sinh trưởng, năng suất ngọn non của cây giâm hom khi trồng thực tế dưới tán rừng hoặc giàn leo vườn nhà.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Lâm nghiệp, Lâm sinh, Nông học, Quản lý tài nguyên rừng và Bảo tồn đa dạng sinh học trong việc học tập phương pháp thiết kế thí nghiệm nông lâm nghiệp, kỹ thuật giâm hom cây rừng và phương pháp phân tích phương sai ANOVA một nhân tố trên Excel.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các trung tâm giống cây trồng, vườn ươm lâm nghiệp tại các tỉnh miền núi phía Bắc tham khảo quy trình nhân giống Bò khai bằng giá thể tầng đất B kết hợp bột kích thích ABT 0,25%.
  • Người dân, chủ trang trại muốn phát triển mô hình trồng cây rau Bò khai làm kinh tế vườn rừng, cải thiện thu nhập từ nguồn lâm sản ngoài gỗ.

Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất trong tài liệu:

  • Bảng quy chuẩn kỹ thuật cắt chọn hom bánh tẻ (chiều dài 15-18 cm, 3 đốt, đường kính 0,5-1,0 cm, cắt giảm diện tích lá).
  • Quy trình điều tiết ẩm độ và ánh sáng 4 giai đoạn từ khi giâm đến khi huấn luyện xuất vườn (ngày thứ 1 đến ngày thứ 60).
  • Dữ liệu so sánh định lượng chi tiết giữa 2 công thức giá thể kèm bảng phân tích phương sai $F$ và chỉ số LSD.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng loại hom giâm và chất kích thích ra rễ nào trong thí nghiệm?
Tác giả sử dụng hom lấy từ cành bánh tẻ 5-6 tháng tuổi, đường kính 0,5-1,0 cm, cắt đoạn dài 15-18 cm (thường có 3 đốt), vát góc 45°, tỉa bớt 1/2 đến 2/3 diện tích lá và ngắt bỏ chồi sẵn có. Chất kích thích ra rễ là thuốc ABT (Aminobenzotriazole) dạng bột nồng độ 0,25%, được chấm trực tiếp vào đầu vết cắt của hom trước khi cấy vào bầu.

2. Hiệu quả phát triển hệ rễ của hom Bò khai trên giá thể tầng đất B (CT1) vượt trội hơn tầng đất A (CT2) như thế nào?
Tại thời điểm 60 ngày, ở công thức 1 (tầng đất B), tỷ lệ ra rễ đạt 52,22%, số rễ trung bình đạt 5,17 cái/hom, chiều dài rễ đạt 2,80 cm và chỉ số ra rễ đạt 14,48. Trong khi đó, ở công thức 2 (tầng đất A), tỷ lệ ra rễ đạt 47,78%, số rễ trung bình chỉ đạt 4,18 cái/hom, chiều dài rễ đạt 2,01 cm và chỉ số ra rễ chỉ đạt 8,40.

3. Quy trình điều tiết ánh sáng và chế độ tưới nước cho hom giâm được thực hiện qua các giai đoạn nào?
Chế độ chăm sóc gồm 4 giai đoạn: (1) Từ 1-10 ngày: tưới 2 lần/ngày (1-2 lít/m²), che sáng 85% (giữ ánh sáng 15%); (2) Từ 10-15 ngày: tưới 1 lần/ngày (1,5 lít/m²), duy trì độ ẩm 70-80%; (3) Từ 15-58 ngày: tưới 1-2 ngày/lần (2 lít/m²), cuộn dần nilon từ ngày 21 và mở dần lớp che sáng từ ngày 35; (4) Sau 58 ngày: tưới 3-4 ngày/lần (3 lít/m²), dỡ bỏ hoàn toàn nilon và vật liệu che vòm để huấn luyện cây con thích nghi môi trường tự nhiên.

4. Kết quả phân tích phương sai ANOVA một nhân tố và kiểm định LSD cho thấy điều gì về mặt thống kê?
Kiểm định ANOVA một nhân tố trên phần mềm Excel cho thấy $F_{A} = 268,7$, vượt xa giá trị giới hạn $F_{crit} = 7,71$ (ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$), cho thấy ảnh hưởng của giá thể là rất rõ rệt. Sai số bảo đảm nhỏ nhất $\text{LSD} = 2,024$, trong khi hiệu sai giữa hai công thức là $|14,48 - 8,40| = 6,08 > \text{LSD}$, khẳng định giá thể tầng đất B mang lại hiệu quả vượt trội có ý nghĩa thống kê so với tầng đất A.

5. Thành phần dinh dưỡng và công dụng làm thuốc của cây Bò khai được tác giả nêu ra gồm những chỉ số nào?
Trong 100 g ngọn tươi Bò khai chứa 78,8 g nước, 6 g protein, 7,5 g xơ, 1,6 g tro, 138 mg canxi, 40,7 mg phốt pho, 2,6 mg carotene và 60 mg vitamin C. Toàn bộ cây tươi hoặc khô đều được dùng làm thuốc chữa các bệnh về gan, thận, chứng nước tiểu vàng; thân cành thái mỏng phơi khô ngâm rượu dùng để chữa sốt và bệnh tê thấp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Dương Thị Thạo đã giải quyết thành công mục tiêu xác định giá thể tối ưu cho quá trình giâm hom nhân giống sinh dưỡng cây Bò khai (Erythropalum scandens Blume) tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc sử dụng giá thể tầng đất B kết hợp chất điều hòa sinh trưởng ABT 0,25% mang lại tỷ lệ sống (52,22%), chỉ số ra rễ (14,48) và chỉ số ra chồi (15,90) vượt trội so với giá thể tầng đất A. Công trình đóng góp quy trình kỹ thuật giâm hom rõ ràng, có căn cứ toán học tin cậy, tạo tiền đề khoa học thực tiễn để nhân rộng nguồn giống cây rau đặc sản và dược liệu có giá trị kinh tế cao tại các tỉnh miền núi phía Bắc.