Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt và vô cùng quý giá, những giá trị của rừng mang lại cho con người rất lớn. Rừng cung cấp một khối lượng lớn gỗ và lâm sản cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến, lương thực thực phẩm cho cuộc sống của người dân sống trong và gần rừng. Ngoài ra rừng còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ nguồn nước, đất, điều hòa khí hậu, hạn chế một số thiên tai như: hạn hán, lũ lụt, gió bão, đặc biệt là sự nóng lên của trái đất, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Vì thế vai trò của rừng ngày càng trở nên quan trọng.
Ngay từ khi mới hình thành, loài người đã biết sử dụng cây cỏ vào mục đích duy trì sự tồn tại và phát triển của mình. Thủa sơ khai, con người sử dụng thực vật chỉ đơn giản là phục vụ nhu cầu sinh học đó là cái ăn và chỗ ở. Dần dần theo sự phát triển, con người bắt đầu khai thác thực vật vào cả các mục đích xã hội khác như: các dạng đồ uống, đồ mặc, đồ trang trí, chăm sóc sức khoẻ. Theo thời gian, vốn kiến thức về mối quan hệ giữa con người và cây cỏ ngày càng phong phú và được chọn lọc một cách kỹ càng.
Tuỳ từng đất nước, dân tộc, cộng đồng mà các loài cây, các bộ phận của cây được sử dụng theo những mục đích khác nhau, tác dụng khác nhau. Từ xa xưa, các loại cây cỏ đã được sử dụng để làm hương liệu và gia vị. Hương liệu và gia vị đóng vai trò thiết yếu trong cuộc sống của con người, vì thế chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp các loại gia vị khắp ở khắp nơi, ngay cả trong gian bếp của nhà mình. e 2 Ở Việt Nam có rất nhiều loại hương liệu và gia vị đặc trưng của từng dân tộc, từng vùng miền trên khắp đất nước.
Mỗi nơi lại có cách điều chế, sử dụng riêng của mình, có những cách thức vô cùng đặc biệt được gọi là bí quyết chỉ truyền cho người trong nhà, hoặc nội bộ dòng tộc, hình thành nên những loại hương liệu và gia vị đặc sản. Lạng Sơn là một tỉnh nằm ở biên giới phía bắc có đường biên giới với Trung Quốc dài 253km. Phía bắc Lạng Sơn giáp tỉnh Cao Bằng, phía nam giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông giáp tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), phía đông nam giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây - tây nam giáp tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Lộc Bình là huyện nằm ở phía Đông của tỉnh Lạng Sơn.
Huyện lỵ là thị trấn Lộc Bình, cách thành phố Lạng Sơn 20km về phía Đông Nam. Trong địa bàn huyện có khu rừng du lịch văn hóa Mẫu Sơn có hệ thực vật khá phong phú. Với sự đa dạng về thành phần dân tộc, kiến thức bản địa về các loài cây hương liệu và gia vị nơi đây khá phong phú. Để góp phần bảo tồn kiến thức về cây hương liệu và gia vị được tích luỹ cũng như bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý các loài cây hương liệu và gia vị, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây hương liệu và gia vị của cộng đồng các dân tộc tại khu rừng du lịch văn hóa xã Mẫu Sơn - Huyện Lộc Bình - Tỉnh Lạng sơn”.
Mục tiêu của đề tài - Xác định được thành phần loài và giá trị sử dụng của các loài thực vật sử dụng làm hương liệu và gia vị trên địa bàn nghiên cứu. - Xác định được kiến thức bản địa liên quan đến các loài cây hương liệu và gia vị (tên loài, bộ phận sử dụng, cách thức thu hái, sử dụng…) - Lựa chọn được các loài cây hương liệu và gia vị có giá trị kinh tế, quan trọng để bảo tồn và phát triển. e 3 - Xác định được nguyên nhân suy thoái và đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo tồn và phát triển các loài thực vật rừng làm hương liệu và gia vị. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Việc nghiên cứu đề tài trước hết là một phương pháp tốt để tự hệ thống và củng cố lại những kiến thức đã học. - Giúp sinh viên có cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tế. Biết cách thu thập, phân tích và xử lý thông tin cũng như kỹ năng tiếp cận và làm việc với cộng đồng thôn bản và người dân. - Làm tiền đề cho sinh viên sau khi ra trường có thêm kiến thức để vững vàng bước vào cuộc sống sau này.
Ý nghĩa trong thực tiễn - Giúp bảo tồn kiến thức bản địa về các loài cây được sử dụng làm hương liệu và gia vị. - Bổ sung thêm kiến thức bản địa vào kho tàng kiến thức dân tộc. - Nâng cao ý thức trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc quản lý và sử dụng tài nguyên rừng và kết hợp hiệu quả sử dụng tài nguyên rừng với hiệu quả bảo vệ môi trường. - Tìm ra giá trị sử dụng, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các loài cây hương liệu và gia vị.
e 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Gia vị, theo định nghĩa của các nhà khoa học và sinh học, là những loại thực phẩm, rau thơm (thường có tinh dầu) hoặc các hợp chất hóa học cho thêm vào món ăn, có thể tạo những kích thích tích cực nhất định lên cơ quan vị giác, khứu giác và thị giác đối với người ẩm thực. Gia vị làm cho thức ăn có cảm giác ngon hơn, kích thích hệ thống tiêu hóa của người ăn khiến thực phẩm dễ tiêu hóa, đồng thời có thể chế hóa theo những nguyên lý tương sinh, âm dương phối triển đối với các loại thực phẩm đặc biệt. Hiện nay, trong nước và trên thế giới đã và đang sử dụng rất nhiều các loài thực vật rừng làm hương liệu và gia vị.
Các loài cây này được thu hái và sử dụng dựa trên cơ sở từ những kinh nghiệm kiến thức tích lũy qua nhiều thế hệ, ngày nay những kiến thức này đang có nguy cơ mai một. Do đó gìn giữ vốn kiến thức, kinh nghiệm quý báu trong việc sử dụng các loài thực vật rừng làm gia vị là việc hết sức cần thiết. Tuy nhiên để phát triển bền vững thì cần phải kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa tri thức cộng đồng và tri thức khoa học. Tri thức bản địa đã và đang góp phần quan trọng trong việc ổn định đời sống cộng đồng.
Đây là cơ sở quan trọng để tiến hành thực hiện đề tài nhằm thu thập được những tri thức bản địa quan trọng về thành phần loài, nơi phân bố, giá trị sử dụng, hiện trạng ngoài tự nhiên và khả năng gây trồng các loài thực vật rừng được sử dụng làm hương liệu và gia vị tại xã Mẫu Sơn – huyện Lộc Bình – tỉnh Lạng Sơn. Trên cơ sở đó đưa ra được những giải pháp nhằm phát triển, bảo tồn và khai thác bền vững nguồn gen quý giá này. Tìm hiểu chung về tri thức bản địa e 5 Kiến thức bản địa (indigenous knowledge), kiến thức địa phương (local knowledge) hay tri thức truyền thống (traditional knowledge) là hệ thống tri thức mà người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội (Trần Văn Điền, Hồ Ngọc Sơn, 2014) [4]. Tri thức bản địa được duy trì, phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại rất gần gũi giữa con người với môi trường tự nhiên.
Tập hợp những hiểu biết, kiến thức và ý nghĩa này là một phần của tổng hợp văn hoá bao gồm cả hệ thống ngôn ngữ, cách định danh và phân loại, phương thức sử dụng tài nguyên, các lễ nghi, giá trị tinh thần và thế giới quan. Những tri thức này là nền tảng cơ sở để đưa ra những quyết định về nhiều phương diện cơ bản của cuộc sống hàng ngày tại địa phương như khai thác tự nhiên, các hệ thống canh tác và chăn nuôi, tìm kiếm nguồn nước, tự bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ bản thân; và sự thích nghi với những thay đổi của môi trường. Tri thức bản địa sử dụng nguồn tài nguyên của địa phương, ít phụ thuộc vào nguồn cung cấp từ bên ngoài. Tri thức bản địa chủ yếu được truyền miệng từ đời này sang đời khác, ít khi được lưu trữ bằng văn bản ghi chép.
Tri thức bản địa được hình thành trong quá trình trải nghiệm và đúc kết thành tri thức, luôn có sự chọn lọc trong quá trình vận động của cuộc sống, hướng đến sự thích nghi với đặc điểm văn hoá, xã hội và môi trường. Tri thức bản địa luôn được làm giàu qua việc tích hợp các kinh nghiệm mới hoặc tri thức mới có được từ quá trình tiếp biến văn hoá (Dương Thị Giang, 2013) [5]. Tri thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn. Trên thực thế, bất kỳ nhóm cộng đồng nào cũng có tri thức bản địa: Nông thôn và thành thị; người định cư và người du cư; người bản địa và người nhập cư.
Quá trình giao lưu, xáo trộn dân cư cũng sẽ dẫn đến việc hình thành các tri thức e 6 bản địa mới, trên cơ sở của quá trình tiếp xúc và biến đổi, đào thải (những gì không còn phù hợp) và tích hợp (tiếp thu những yếu tố mới, có ích cho cuộc sống), thường được gọi bằng một thuật ngữ mang tính bao quát hơn là tri thức địa phương (local knowledge). Chính vì vậy, tri thức bản địa phản ánh đặc tính của lứa tuổi, giới tính và đặc điểm của nhóm xã hội: Những người già có nhiều loại kiến thức khác so với thế hệ trẻ; phụ nữ có những tri thức khác so với nam giới; người có học thức và người ít học tích hợp được các vốn tri thức khác nhau. Có những kiến thức chung, được tất cả mọi người trong cộng đồng hiểu biết; cũng có những kiến thức cùng chia sẻ, có nhiều người biết nhưng không phải toàn bộ cộng đồng; lại có những kiến thức chuyên nghiệp/chuyên biệt, chỉ có ở một số ít người (ví dụ chỉ có một số ít người dân là thầy thuốc, thầy cúng, nghệ nhân, bà đỡ hoặc thợ thủ công…) (Mai Thanh Sơn, Lê Đinh Phùng, Lê Đức Thịnh, 2011) [9].