Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên thiên nhiên đặc biệt và vô cùng quý giá, những giá trị của rừng mang l i cho con ngƣời rất lớn. Rừng cung cấp một khối lƣợng lớn gỗ và lâm sản cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến, lƣơng thực thực ph m cho cuộc sống của ngƣời dân sống trong và gần rừng. Rừng còn g p phần bảo vệ nguồn nƣớc, đất, điều hòa khí hậu, chống một số thiên tai nhƣ: h n hán, lũ lụt, gi bão, đặc biệt là sự n ng lên của trái đất. Trong quá trình phát triển, loài ngƣời đã biết sử dụng những sản ph m của rừng mà đặc biệt là thực vật rừng để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống.
Sự tích luỹ kinh nghiệm khiến cho con ngƣời hiểu rõ hơn về tác dụng của các loài thực vật rừng, từ đ chọn lọc và sử dụng chúng trong các ho t động đời sống. Tuỳ từng đất nƣớc, dân tộc, cộng đồng mà các loài cây, các bộ phận của cây đƣợc sử dụng theo những mục đích khác nhau, tác dụng khác nhau. Nƣớc ta với đặc thù tự nhiên, địa hình, khí hậu nên c hệ sinh thái rất đa d ng phong phú về thành phần loài, số lƣợng loài thực vật cũng nhƣ động vật. Theo các nhà phân lo i thực vật thì Việt Nam là nƣớc giàu tài nguyên thực vật nhất Đông Nam Á, nơi c khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao.948 loài đƣợc dùng làm thuốc (viện dƣợc liệu, 2007) chiếm khoảng 37% số loài đã biết.
Đ chƣa kể đến những cây thuốc gia truyền của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết đƣợc c một phần. Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê đƣợc 1.066 loài cây trồng trong đ cũng c 179 loài cây sử dụng làm thuốc. Theo kết quả điều tra của viện dƣợc liệu trong thời gian 2002 - 2005 số loài cây thuốc ở một số vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trƣờng Sơn nhƣ sau: Đắc Lắc (751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài). Với hệ thực vật nhƣ vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú và đa d ng.
Nguồn kiến thức tích luỹ về các lo i cây rừng và tác dụng của chúng đã đƣợc đồng bào các dân tộc đúc kết qua nhiều thế hệ, nhƣng hầu hết chúng chỉ đƣợc lƣu luan an 2 truyền trong nội bộ các cộng đồng riêng lẻ. Trong số đ c rất nhiều tri thức kinh nghiệm c thể sử dụng để phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của ngƣời dân. Theo quá trình phát triển của đất nƣớc sự tích luỹ về kiến thức, kinh nghiệm quý báu này đang dần bị mai một và lãng quên. Do đ , việc nghiên cứu phát hiện và bảo tồn tiến đến sử dụng bền vững bền vững tài nguyên cây thuốc bản địa là một vấn đề rất cần thiết trong giai đo n hiện nay.
Đối với các cộng đồng dân tộc ở xã Khâu Tinh - huyện Na Hang - tỉnh Tuyên Quang c những bài thuốc, kinh nghiệm rất hay, đơn giản nhƣng hiệu quả trong việc chữa bệnh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tri thức bản địa về khai thác và sử dụng tài nguyên cây thuốc của các cộng đồng dân địa phương tại xã Khâu Tinh, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang" đƣợc thực hiện nhằm tìm ra giải pháp để bảo tồn và phát triển các loài cây thuốc c giá trị và kinh nghiệm sử dụng các bài thuốc của cộng đồng dân tộc. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Đề tài thực hiện nhằm đ t các mục tiêu sau: - Phát hiện đƣợc từ cộng đồng các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các lo i bệnh thƣờng gặp trong cuộc sống. - Tƣ liệu h a đƣợc tri thức trong việc trồng, khai thác và chế biến cây thuốc của các cộng đồng ở khu vực nghiên cứu luan an 3 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài Nhằm tƣ liệu h a kinh nghiệm trong việc khai thác và sử dụng thực vật làm thuốc, g p phần bảo tồn và nhân rộng một số cây thuốc quý. Ý nghĩa trong thực tiễn Đề tài g p phần nghiên cứu về việc sử dụng các loài thực vật Lâm sản ngoài gỗ để làm thuốc nhằm bảo tồn nguồn tri thức bản địa. luan an 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, nhiều nƣớc đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm thuốc, nhiều nƣớc đã c nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất kh u làm dƣợc liệu và thu đƣợc nguồn ngo i tệ đáng kể. Đặc biệt là Trung Quốc, c thể khẳng định đây là quốc gia đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh. Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đƣa ra “Bản thảo cương mục” sau đ năm 1955 cuốn bản thảo này đƣợc in ấn l i.
Nội dung cuốn sách đã đƣa đến cho con ngƣời cách sử dụng các lo i cây cỏ để chữa bệnh. Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới ngƣời đọc cách sử dụng từng lo i cây thuốc, tác dụng sinh lý, h a sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các lo i cây thuốc theo từng địa phƣơng nhƣ “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dƣợc danh thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” …(Dẫn theo Trần Hồng Hạnh,1996).[6] Năm 1968 một số nhà nghiên cứu cây thuốc t i Vân Nam, Trung Quốc đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” cuốn sách đã đề cấp tới cây Thảo quả với nội dung sau: - Phân lo i cây Thảo quả: gồm tên khoa học (Amomum tsao-ko Crevost Lemaire), tên họ Zingiberceae. - Hình thái: D ng sống, thân, gốc, rễ, lá, hoa, quả. - Vùng phân bố ở Trung Quốc - Đặc điểm sinh thái: Khí hậu và đất đai - Kỹ thuật gây trồng: Nhân giống, làm đất, trồng, chăm s c, phòng trừ sâu bệnh.
- Thu ho ch và chế biến, ph m chất quy cách, bao g i, bảo quản. - Công dụng: Làm thuốc trị các bệnh về đƣờng ruột. luan an 5 Đây là cuốn sách tƣơng đối hoàn chỉnh đã giới thiệu một cách tổng quát và c hệ thống về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học.de Beer - một chuyên gia Lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lƣơng thế giới khi nghiên cứu về vai trò của thị trƣờng và của lâm sản ngoài gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của Thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho ngƣời dân sống trong khu vực rừng núi, nơi c phân bố Thảo quả nhằm x a bỏ đ i nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đ y sự phát triển kinh tế, xã hội vùng núi và bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. Năm 1996 Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc t i Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên so n cuốn sách “Bản thảo bức tranh màu Trung Quốc”.
Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc với nội dung đề cấp là: Tên khoa học, một số dặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần h a học. Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đ c Thảo quả. Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân lo i của Thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của Thảo quả. Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sốc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán Thảo quả trên thế giới (Dẫn theo Phan Văn Thắng, 2002).
[16] Vị thuốc “Đông Trùng Hạ Thảo” của ngƣời Trung Quốc c giá tới 2000-5000 USD/ Kg. Hoặc ở Triều Tiên, cây Nhân Sâm đã mang l i một nguồn lợi kinh tế khá lớn cho những cơ sở trồng trọt và sản xuất thuốc từ cây này. Theo ƣớc tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) c khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tọc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm s c sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn h a.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay c khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển c nhu cầu chăm s c sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu hoặc qua các chất chiết suất từ dƣợc liệu (Dẫn theo Nguyễn Văn Tập, 2006). [13] luan an 6 Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã c các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn. Arasimovich đã nghiên cứu thành công công trình “Phương pháp nghiên cứu hóa sinh - sinh lý cây thuốc”. Công trình này là cơ sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đ t hiệu quả tối ƣu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loài cây thuốc.
Yatsenko đã đƣa ra đƣợc giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dƣợc liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc”. Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nƣớc Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang l i lợi ích cao vừa không gây h i cho sức khỏe của con ngƣời. Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp ngƣời đọc tìm đƣợc lo i cây thuốc và chữa đúng bệnh với liều lƣợng đã đƣợc định sẵn.Dule - nhà dƣợc lý học ngƣời Mỹ đã c nhiều đ ng g p cho tổ chức Y tế Thế giới (WHO) trong việc xây dựng danh mục các loài cây thuốc, cách thu hái, sử dụng, chế biến và một số thận trọng khi sử dụng các lo i cây thuốc (Dẫn theo Trần Thị Lan, 2005). [8] Những nghiên cứu về tri thức bản địa các loài cây thuốc c thể liệt kê c một số công trình dƣới đây: Harsha V.
Kết quả cho thấy c 45 loài cây thuộc 26 họ đƣợc cộng đồng ngƣời Kunabis sử dụng làm thuốc.