Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu tri thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây LSNG để làm thuốc của đồng bào dân tộc Sán Dìu tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện bởi sinh viên Trương Thị Thùy Linh, chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (năm 2015), dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Công Hoan.

Theo tác giả, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là bộ phận chức năng quan trọng cấu thành hệ sinh thái rừng nhiệt đới, mang ý nghĩa kinh tế và giá trị đa dạng sinh học cao. Từ lâu đời, LSNG đã được khai thác phục vụ đời sống qua các nhóm công dụng như thực phẩm, dược liệu, thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng. Tuy nhiên, sự suy thoái diện tích rừng cùng với việc khai thác mang tính thương mại, thiếu hiểu biết về đặc tính sinh học và không gắn liền bảo tồn đã khiến nhiều loài cây thuốc tự nhiên suy kiệt nghiêm trọng. Tại tỉnh Thái Nguyên – địa bàn cư trú của nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số như Dao, Tày, Nùng, Sán Chay, Sán Dìu – mỗi dân tộc đều sở hữu hệ thống kinh nghiệm dùng cây cỏ chữa bệnh riêng biệt. Tại xã Vô Tranh (huyện Phú Lương), đồng bào Sán Dìu lưu giữ kho tàng tri thức bản địa độc đáo về cây thuốc, song nguồn tư liệu này chưa được ghi chép và hệ thống hóa bài bản, đối mặt với nguy cơ mai một trước sự phát triển của y học hiện đại và sự thay đổi nhận thức của thế hệ trẻ.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Xác định danh mục các loài thực vật làm thuốc và một số bài thuốc kinh nghiệm của đồng bào dân tộc Sán Dìu tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Xác định các loài cây thuốc và các bài thuốc cần được ưu tiên bảo tồn tại địa bàn nghiên cứu.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Điều tra thành phần loài cây LSNG được sử dụng làm thuốc.
  2. Mô tả đặc điểm hình thái một số loài LSNG làm thuốc tiêu biểu.
  3. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của người Sán Dìu trong khai thác, sử dụng tài nguyên cây thuốc.
  4. Tìm hiểu phương thức ứng dụng tri thức bản địa trong khai thác, bảo quản và phối chế bài thuốc.
  5. Đề xuất các giải pháp nâng cao công tác bảo tồn các loài LSNG và bài thuốc dân gian tại địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các loài lâm sản ngoài gỗ được đồng bào dân tộc Sán Dìu thu hái, sử dụng làm dược liệu chữa bệnh.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (tọa độ tiếp giáp: phía Đông giáp trại giam Phú Sơn 4, phía Tây giáp xã Phấn Mễ, phía Nam giáp thị trấn Giang Tiên, phía Bắc giáp xã Tức Tranh; độ cao địa hình biến thiên từ 100 m đến 400 m so với mực nước biển).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu thực địa và nội nghiệp từ ngày 01/02/2015 đến ngày 25/05/2015.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa các cơ sở lý luận và tài liệu tổng quan trong nước và quốc tế về thực vật dân tộc học và tài nguyên dược liệu:

  • Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): Các thống kê của WHO (Akerele; Tuyên ngôn Alma-Ata năm 1978; "Hướng dẫn đánh giá y học cổ truyền" năm 1991) chỉ rõ khoảng 80% dân số tại các quốc gia đang phát triển phụ thuộc vào y học cổ truyền và dược liệu tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe ban đầu. Đến năm 1985, thế giới ghi nhận khoảng 20.000 loài thực vật bậc cao và bậc thấp làm thuốc; hệ thống Napralert (1990) nâng con số ước tính lên 30.000 loài (Trung Quốc trên 10.000 loài, Ấn Độ trên 6.000 loài, Đông Nam Á khoảng 6.500 loài).
  • Quỹ Thiên nhiên Thế giới (WWF) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN): WWF ước tính có 35.000 loài thực vật dùng chữa bệnh trong tổng số 250.000 loài thực vật toàn cầu. IUCN thống kê trong 43.000 loài thực vật có dữ liệu thì có khoảng 30.000 loài đối diện các cấp độ đe dọa tuyệt chủng khác nhau.
  • Lịch sử nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam: Tác giả hệ thống hóa các tài liệu lịch sử từ thời Pháp thuộc như công trình của E. Perrot và Paul Hurier (1907, "Dược liệu và dược điển Trung Việt"), bộ sách của A. Pételot (1952–1954, "Những cây thuốc của Campuchia, Lào và Việt Nam" với 1.430 vị thuốc thảo mộc). Giai đoạn sau 1954 gồm các công trình nền tảng: "Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam" (Đỗ Tất Lợi, 1962–1965, mô tả 430 loài thuộc 116 họ), "Tóm tắt đặc điểm các họ cây thuốc" (Vũ Văn Chuyên, 1966), "Từ điển cây thuốc Việt Nam" (Võ Văn Chi, 1997, mô tả 3.200 loài), "Cây cỏ có ích ở Việt Nam" (Võ Văn Chi, Trần Hợp, 1999) và "Danh lục đỏ cây thuốc Việt Nam" (Nguyễn Văn Tập, 2006).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý thông tin được áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế – xã hội của xã Vô Tranh và huyện Phú Lương.
  • Kỹ thuật điều tra thực vật dân tộc học:
    • Liệt kê tự do (Free listing): Tiến hành phỏng vấn người cung cấp tin (NCCT) thuộc dân tộc Sán Dìu có kinh nghiệm về cây thuốc, sử dụng bộ câu hỏi mở chuẩn hóa, ghi nhận tên cây thuốc hoàn toàn bằng tiếng dân tộc bản địa để tránh nhầm lẫn danh pháp.
    • Phỏng vấn sâu và điều tra theo tuyến: Lập tuyến điều tra cắt qua các sinh cảnh rừng, đồi, nương rẫy và vườn nhà. Điều tra viên đi cùng NCCT trọng điểm (thầy lang, người cao tuổi, phụ nữ am hiểu cây thuốc) để xác định cây thuốc ngoài thực địa, thu thập thông tin về bộ phận dùng, công dụng, sinh cảnh sống và tần suất bắt gặp. Khảo sát chi tiết hành vi thu hái tại 30 hộ gia đình người Sán Dìu; tổ chức thảo luận nhóm tập trung (quy mô 10 người/nhóm) để thẩm định bài thuốc.
  • Phương pháp nghiên cứu thực vật học:
    • Thu mẫu tiêu bản: Thu thập 3–5 mẫu trên cùng một cây đối với dạng thân gỗ lớn; thu 3–5 cá thể sống gần nhau đối với dạng thân thảo và dương xỉ. Ghi chép tại chỗ các đặc điểm hình thái không lưu giữ được trên mẫu khô (màu hoa, quả, mùi vị, nhựa mủ). Mẫu tươi được kẹp báo và xử lý kỹ thuật.
    • Định danh thực vật: Sử dụng phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu mẫu vật với các khóa phân loại chuyên ngành và "Danh lục các loài thực vật Việt Nam".
    • Phương pháp chuyên gia: Tham vấn và giám định các loài khó phân loại bởi các chuyên gia thực vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng các giảng viên chuyên ngành tại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1. Mở đầu

Tác giả xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của lâm sản ngoài gỗ đối với hệ sinh thái và kinh tế địa phương. Trình bày thực trạng khai thác cạn kiệt nguồn cây thuốc tự nhiên, giới thiệu tính đa dạng văn hóa tộc người của tỉnh Thái Nguyên và đặt trọng tâm nghiên cứu vào tri thức bản địa của người Sán Dìu tại xã Vô Tranh. Xác định rõ mục tiêu, nội dung, phạm vi không gian, thời gian và ý nghĩa khoa học lẫn thực tiễn của khóa luận trong việc bảo tồn nguồn gen dược liệu và bản sắc văn hóa dân tộc.

Phần 2. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các nghiên cứu về cây thuốc và lâm sản ngoài gỗ trên phạm vi quốc tế và Việt Nam. Phân tích chi tiết bối cảnh tự nhiên, dân sinh của địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện địa lý – khí hậu: Xã Vô Tranh cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 20 km về phía Đông; địa hình đồi bát úp mang tính chất trung du, độ cao từ 100 m đến 400 m; khí hậu nhiệt đới gió mùa chia hai mùa rõ rệt (mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ có thời điểm xuống 3°C; mùa nóng từ tháng 4 đến tháng 10, mưa tập trung chiếm trên 90% lượng mưa cả năm; đỉnh điểm tháng 7 mưa 410–420 mm); mật độ sông suối bình quân 0,2 km/km².
  • Đặc điểm dân sinh – kinh tế: Tổng dân số xã là 2.155 nhân khẩu thuộc 9 dân tộc (Kinh chiếm 54,2%, Tày 21,1%, Sán Chay 8,5%, Nùng 4,5%, Dao 4,4%, Sán Dìu 3,29%, còn lại là Thái, Hoa, H'Mông). Lực lượng lao động chính gồm 1.890 người (chiếm 41% nhân khẩu). Nông nghiệp là sinh kế chủ đạo với 90% hộ tham gia; 100% hộ dân trồng chè – cây mũi nhọn địa phương. Về lâm nghiệp, cây trồng chủ lực là keo tràm với diện tích 650,4 ha (diện tích cho khai thác đạt 325,7 ha, sản lượng 150–200 tấn/năm), kết hợp diện tích trồng quế, xoan.
  • Cơ sở hạ tầng: Toàn xã có 5 trạm biến áp điện 23,4 kV; 80,4 km đường giao thông (trong đó đường liên xã, liên thôn dài 22 km gồm 44 tuyến, đã bê tông hóa 10 km, đạt 40%); 02 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, 01 trường THCS và 01 trạm y tế xã.
  • Thuận lợi và khó khăn: Nêu rõ điều kiện đất đai, khí hậu thích hợp cho hệ thực vật phong phú, người dân có kinh nghiệm lâu đời; tuy nhiên diện tích rừng tự nhiên hạn chế (chủ yếu là rừng trồng keo và đồi trọc), thầy thuốc người Sán Dìu còn ít, tình trạng khai thác bừa bãi không tái sinh và sự lấn át của tân dược tạo nên thách thức lớn cho việc bảo tồn.

Phần 3. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng nghiên cứu (các loài LSNG làm thuốc của người Sán Dìu), địa điểm (xã Vô Tranh), thời gian thực hiện (01/02/2015 – 25/05/2015). Mô tả quy trình thực hiện gồm 5 bước phương pháp luận: thu thập tài liệu thứ cấp, phương pháp chuyên gia, kỹ thuật phỏng vấn dân tộc học (Free listing, điều tra theo tuyến và phỏng vấn NCCT trọng điểm), phương pháp thu hái và xử lý mẫu thực vật học (mẫu khô, ảnh chụp, ghi chép hiện trường, định danh theo phương pháp hình thái so sánh, tra cứu Danh lục thực vật Việt Nam) và công tác nội nghiệp tổng hợp báo cáo.

Phần 4. Kết quả nghiên cứu và phân tích kết quả

Phần này trình bày toàn bộ dữ liệu khảo sát thực nghiệm tại xã Vô Tranh:

  • Cơ cấu thành phần loài và dạng sống: Toàn bộ quá trình nghiên cứu xác định được 104 loài cây thuốc thuộc hệ thực vật LSNG do người Sán Dìu sử dụng. Phân loại dạng sống ghi nhận: 46 loài cây cỏ (trong kết luận ghi 48 loài thân cỏ), 22 loài cây gỗ, 8 đến 18 loài dây leo/cây bụi (theo phân loại thống kê kết luận là 18 loài cây bụi, 11 loài dây leo), 10 loài phụ sinh và ký sinh.
  • Cơ cấu lao động thu hái và tỷ lệ bộ phận sử dụng: Khảo sát tại 30 hộ gia đình cho thấy tỷ lệ giới tính tham gia thu hái thuốc có sự chênh lệch rõ nét: nữ giới chiếm ưu thế với 22 người (73,3%), nam giới có 8 người (26,7%). Tỷ lệ sử dụng các bộ phận thực vật làm thuốc được tổng hợp tại bảng số liệu:
Bộ phận sử dụng Tỷ lệ sử dụng (%)
Thân cây 63%
Lá cây 45%
Quả 33%
Rễ cây 30%
Hoa 24%
Hạt 24%
  • Mô tả đặc điểm hình thái 11 loài cây thuốc tiêu biểu: Bông mã đề, Dây bò khai, Đinh lăng, Cam thảo đất, Kim tiền thảo, Hà thủ ô đỏ, Nhọ nồi, Hoàng đằng, Gừng, Địa liền, Cây lá bỏng.
  • Tri thức bản địa trong khai thác, chế biến và bảo quản:
    • Khai thác theo bộ phận: Lá (bách sanh, lược vàng, rau ngót); Ngọn (bò khai, húng chó, tía tô); Cành (mía dò, tầm gửi); Thân, dây (tơ hồng vàng, hà thủ ô đỏ); Rễ, củ (gừng, nghệ, ba kích); Quả, vỏ (lựu, thị, núc nác); Quả, hạt (mác mật, gấc, bồ kết).
    • Khung giờ thu hái theo kinh nghiệm bản địa: Các thầy lang chỉ thu hái vào 2 khung thời gian trong ngày: từ sáng sớm đến 9 giờ sáng và từ 16–17 giờ chiều đến tối, vì người dân tin rằng đây là lúc cây thuốc tích lũy hoạt tính công hiệu cao nhất.
    • Phương thức chế biến: Đa số dùng tươi tại chỗ (tía tô, kinh giới, bách hộ) để xử lý bệnh cấp tính; phơi sấy khô bảo quản lâu dài (quế, kim ngân, địa liền); nấu thành cao (hà thủ ô); ngâm rượu uống hoặc xoa bóp (ba kích, diềng).
  • Phối chế bài thuốc kinh nghiệm: Thống kê 37 loài cây LSNG cấu thành các bài thuốc chủ yếu điều trị 21 nhóm bệnh. Tác giả mô tả chi tiết công thức 13 bài thuốc cụ thể:
    1. Hạ sốt: Cả cây đu đủ rừng phối hợp rau dấp cá, giã nát uống tươi hoặc đun sôi uống ngày 2–3 lần.
    2. Chữa phong thấp: Thân và lá cây mào gà trắng phơi khô sắc nước uống.
    3. Lợi tiểu: Hạt mã đề phối hợp thân lá cam thảo đất, rửa sạch phơi khô, sắc 4 bát nước lấy 2 bát, chia uống nhiều lần.
    4. Đau răng: Rễ lá lốt, rễ rau dền gai, vỏ quả lựu rửa sạch, thái nhỏ, sao khô hạ thổ rồi ngâm rượu 2–3 tuần, ngậm 1–2 lần/ngày sau bữa ăn.
    5. Chảy máu chân răng: Rễ cà gai leo sắc uống ngày 1–2 lần; củ tắc kè đá ngâm rượu 1–2 tháng; cả cây nhọ nồi sắc uống ngày 2 lần; vỏ thân cây đại phơi khô ngâm rượu.
    6. Tăng huyết áp: Gồm 2 bài thuốc:
      • Bài 1: Dừa cạn 160g, lá đinh lăng 180g, hoa hòe 150g, cỏ xước 160g, đỗ trọng 120g, chi tử 100g, cam thảo đất 140g. Tất cả sao giòn, tán vụn trộn đều; mỗi ngày dùng 40g hãm nước sôi 10 phút, uống thay trà.
      • Bài 2: Lá dâu tươi 50g rửa sạch, sắc với 200 ml nước còn 100 ml, chia uống 2 lần trong ngày.
    7. Quai bị: Nhân hạt gấc giã nát hoặc 4–5 hạt gấc đốt thành than, trộn cùng 5 ml giấm thanh và 6–10g tinh cối đá đã vô trùng, bôi vào vết sưng 4–5 lần/ngày.
    8. Sởi: Cả cây dấp cá, rau rệu, cam thảo đất sắc uống ngày 3 lần, kết hợp nấu lá cây gáo xông hơi.
    9. Đau lưng: Lá ngải cứu rửa sạch, sao nóng với rượu, đắp ấm tại chỗ ngày 1–2 lần.
    10. Bong gân: Lá náng tươi (2–5 lá) thêm chút rượu nướng nóng, đắp vào chỗ tổn thương.
    11. Đau dạ dày: Cả cây thạch xương bồ, củ riềng, quả mơ, củ nghệ vàng, củ cỏ ấu, vỏ rễ núc nác; rửa sạch phơi khô sắc uống mỗi lần 20–40g, chia 2–3 lần/ngày; kiêng thức ăn cay, rượu bia.
    12. Rắn cắn: Lá cối xay, lá chanh, lá và thân chó đẻ răng cưa, lá lốt, lá hà thủ ô trắng; rửa sạch giã nát đắp trực tiếp vào vết cắn.
    13. Chữa tắc tia sữa ở phụ nữ nuôi con nhỏ: Lá bồ công anh và lá gấc mỗi thứ một nắm, giã nhỏ trộn chút rượu, đắp và băng cố định tại chỗ.
  • Đánh giá mức độ đe dọa và xác định loài ưu tiên bảo tồn: Xây dựng ma trận chấm điểm dựa trên 4 chỉ tiêu: Độ hữu ích của loài (2 điểm = rất hữu ích); Mức độ dễ xâm nhập (0 = không thể, 1 = dễ xâm nhập); Tính chuyên biệt về nơi sống (0 = không chuyên biệt, 1 = có chuyên biệt, 2 = tính chuyên biệt cao); Mức độ tác động đến sự sống của loài (0 = không tác động, 1 = tác động thấp, 2 = tác động cao). Kết quả đánh giá trên 34 loài đại diện:
STT Tên cây Độ hữu ích Dễ xâm nhập Chuyên biệt nơi sống Mức độ tác động Tổng điểm
1 Hoàng đằng 2 0 2 1 5
2 Bông mã đề 2 1 1 1 5
3 Bọ mẩy 2 1 0 0 3
4 Nhân trần 2 1 1 1 5
5 Bò khai 2 1 0 0 3
6 Tía tô 2 1 0 0 3
7 Gấc 2 1 0 0 3
8 Cam thảo đất 2 1 0 0 3
9 Núc nác 2 1 1 0 4
10 Kim tiền thảo 2 1 0 1 4
11 Củ mài 2 1 1 1 5
12 Tục đoạn 2 1 1 1 5
13 Sâm hành 2 1 1 1 5
14 Ruột gà 2 1 1 0 4
15 Hà thủ ô đỏ 2 1 1 0 4
16 Quế 2 1 0 0 2
17 Ngũ gia bì 2 1 0 0 3
18 Dừa cạn 2 1 1 0 4
19 Tắc kè đá 2 1 1 1 5
20 Nghệ 2 1 0 0 3
21 Nhọ nồi 2 1 0 1 4
22 Đơn đỏ 2 1 0 0 3
23 Gừng 2 1 0 0 3
24 Địa liền 2 1 0 0 3
25 Bỏng 2 1 0 0 3
26 Dẻ quạt 2 1 0 1 3
27 Mác mật 2 1 0 0 3
28 Trám đen 2 1 0 0 3
29 Cối say 2 1 0 0 3
30 Bồ công anh 2 1 0 0 3
31 Mào gà trắng 2 1 0 0 3
32 Sắn dây 2 1 0 0 3
33 Trầu không 2 1 0 0 3
34 Dứa rừng 2 1 2 0 5

Từ bảng đánh giá, có 8 loài đạt mức điểm tối đa (5 điểm) thuộc diện đe dọa nghiêm trọng cần ưu tiên bảo tồn đặc biệt: Hoàng đằng, Bông mã đề, Nhân trần, Củ mài, Tục đoạn, Sâm hành, Tắc kè đá, Dứa rừng. Nhóm bị đe dọa cao kế tiếp (4 điểm) gồm: Dừa cạn, Hà thủ ô đỏ, Núc nác, Kim tiền thảo, Nhọ nồi, Ruột gà.

  • Xác định 7 bài thuốc ưu tiên bảo tồn qua đồng thuận cộng đồng: Bài thuốc chữa rắn cắn, Bài thuốc chữa bệnh tiểu đường, Bài thuốc chữa huyết áp cao, Bài thuốc chữa bệnh sỏi thận, Bài thuốc chữa tắc tia sữa ở phụ nữ đang nuôi con, Bài thuốc chữa bệnh dạ dày, Bài thuốc chữa bệnh đau lưng. Cộng đồng lựa chọn 18 loài cây cấu thành các bài thuốc này để ưu tiên nhân giống và bảo tồn tại chỗ.
  • Đề xuất giải pháp bảo tồn: Giao đất giao rừng gắn trách nhiệm bảo vệ; giáo dục nâng cao nhận thức cho thế hệ trẻ; khuyến khích người cao tuổi truyền dạy kinh nghiệm; hỗ trợ tư liệu hóa bài thuốc bằng văn bản; lồng ghép phát triển cây thuốc vào mô hình nông lâm kết hợp; nghiên cứu khoa học về kỹ thuật nhân giống, gây trồng; tạo đầu ra thị trường thông qua UBND xã; xây dựng các vườn thuốc mẫu cộng đồng.

Phần 5. Kết luận và đề nghị

Khái quát lại các kết quả định lượng về số loài (104 loài), cấu trúc dạng sống, môi trường sống (hoang dã và vườn nhà), bộ phận sử dụng, 37 loài trong 21 nhóm bệnh, 8 loài và 7 bài thuốc ưu tiên bảo tồn. Đồng thời, đưa ra kiến nghị về việc mở rộng thời gian nghiên cứu, tăng cường sự hỗ trợ của chính quyền các cấp và đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật gieo trồng dược liệu cho đồng bào Sán Dìu.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả số liệu định lượng:

  • Ghi nhận và lập danh mục tổng số 104 loài thực vật thuộc nhóm LSNG được người Sán Dìu xã Vô Tranh sử dụng làm thuốc, bao gồm 48 loài thân cỏ, 18 loài cây bụi, 11 loài dây leo, cùng các loài cây thân gỗ, phụ sinh và ký sinh.
  • Thống kê tỷ lệ phân bố giới tính của người thu hái qua khảo sát 30 hộ gia đình: nữ giới chiếm tỷ lệ áp đảo với 73,3% (22 người), nam giới chiếm 26,7% (8 người).
  • Tỷ lệ bộ phận cây thuốc được sử dụng gồm: thân (63%), lá (45%), quả (33%), rễ (30%), hoa (24%), hạt (24%).
  • Khái quát 37 loài LSNG chủ chốt tham gia trị liệu 21 nhóm bệnh lý; ghi chép chi tiết phương thức bào chế của 13 bài thuốc tiêu biểu.
  • Xác lập bảng phân hạng mức độ đe dọa của 34 loài cây thuốc; chỉ ra 8 loài có nguy cơ suy kiệt cao nhất đạt 5 điểm đe dọa (Hoàng đằng, Bông mã đề, Nhân trần, Củ mài, Tục đoạn, Sâm hành, Tắc kè đá, Dứa rừng) và 6 loài ở mức 4 điểm (Dừa cạn, Hà thủ ô đỏ, Núc nác, Kim tiền thảo, Nhọ nồi, Ruột gà).
  • Thống nhất cùng cộng đồng danh mục 7 bài thuốc thiết yếu và 18 loài dược liệu cần ưu tiên lưu giữ, nhân giống tại chỗ.

Đóng góp của nghiên cứu do tác giả tự xác định:

  • Đề tài là công trình điều tra thực vật dân tộc học có hệ thống đầu tiên về cây thuốc của đồng bào dân tộc Sán Dìu tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương.
  • Tư liệu hóa nguồn tri thức bản địa lưu truyền bằng miệng (kinh nghiệm nhận biết, kỹ thuật thu hái theo giờ, cách thức chế biến, phối chế) đang có nguy cơ thất truyền.
  • Cung cấp cơ sở khoa học khách quan cho chính quyền địa phương và các cơ quan lâm nghiệp trong việc quy hoạch bảo tồn nguồn gen cây thuốc quý và phát triển kinh tế lâm nghiệp thông qua các mô hình nông lâm kết hợp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Thời gian tiến hành nghiên cứu trên thực địa còn ngắn (chỉ kéo dài trong gần 4 tháng, từ tháng 2/2015 đến tháng 5/2015), khiến việc theo dõi đặc điểm sinh học qua các mùa khác nhau trong năm của một số loài thực vật còn hạn chế.
  • Kinh phí và phạm vi nghiên cứu ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp đại học nên chưa thể mở rộng sang các xã lân cận hoặc phân tích sâu về hoạt chất hóa học của các loài cây thuốc được ghi nhận.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Kéo dài thời gian nghiên cứu để hoàn thiện danh mục toàn diện các mùa trong năm.
  • Triển khai các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về kỹ thuật nhân giống, gieo trồng và sinh thái tái sinh của các loài cây thuốc có nguy cơ đe dọa cao (như Hoàng đằng, Tắc kè đá, Sâm hành, Tục đoạn).
  • Xây dựng mô hình trình diễn nông lâm kết hợp trồng cây dược liệu tại cộng đồng, gắn việc bảo tồn tri thức bản địa với phát triển kinh tế hộ gia đình tại địa phương.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Nông lâm kết hợp, Lâm nghiệp, Quản lý tài nguyên rừng, Thực vật học, Dược liệu học và Dân tộc học khi tiếp cận phương pháp điều tra thực vật dân tộc học (phương pháp liệt kê tự do, phỏng vấn NCCT, lập tuyến điều tra và kỹ thuật thu mẫu tiêu bản ngoài thực địa).
  • Cơ quan quản lý lâm nghiệp, chính quyền địa phương xã Vô Tranh và huyện Phú Lương trong việc xây dựng kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển kinh tế lâm sản ngoài gỗ.
  • Các phần đáng tham khảo trực tiếp gồm: Bảng mô tả 13 bài thuốc gia truyền kèm tỷ lệ thành phần dược liệu (Bảng 4.3); Ma trận tiêu chí và điểm số phân hạng mức độ đe dọa bảo tồn cây thuốc (Bảng 4.5); và quy trình phỏng vấn bằng tiếng dân tộc bản địa để sàng lọc danh mục tên loài.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo kinh nghiệm bản địa của người Sán Dìu tại xã Vô Tranh, việc thu hái cây thuốc LSNG phải tuân thủ khung giờ nào trong ngày để đạt hiệu quả cao nhất?
Các thầy lang và người có kinh nghiệm tại địa phương chỉ thu hái cây thuốc vào 2 thời điểm nhất định trong ngày: từ sáng sớm đến 9 giờ sáng và từ 16 giờ (hoặc 17 giờ) chiều đến tối. Theo quan niệm bản địa, đây là các khoảng thời gian cây thuốc tích lũy đầy đủ dược tính và mang lại công năng chữa bệnh cao nhất.

2. Khảo sát 30 hộ gia đình người Sán Dìu cho thấy cơ cấu giới tính người thu hái và bộ phận cây thuốc nào được sử dụng nhiều nhất?
Trong 30 hộ gia đình được điều tra, nữ giới là lực lượng thu hái chính với 22 người (chiếm 73,3%), nam giới chỉ có 8 người (chiếm 26,7%). Về bộ phận sử dụng, thân cây chiếm tỷ lệ cao nhất với 63%, tiếp theo là lá cây (45%), quả (33%), rễ cây (30%), còn hoa và hạt đều chiếm 24%.

3. Nghiên cứu đã xác định những loài cây thuốc nào có mức độ đe dọa cao nhất cần ưu tiên bảo tồn đặc biệt?
Dựa trên ma trận chấm điểm 4 tiêu chí (độ hữu ích, mức độ dễ xâm nhập, tính chuyên biệt nơi sống, mức độ tác động), có 8 loài cây thuốc đạt điểm tối đa (5 điểm) thuộc diện đe dọa nghiêm trọng cần ưu tiên bảo tồn đặc biệt gồm: Hoàng đằng, Bông mã đề, Nhân trần, Củ mài, Tục đoạn, Sâm hành, Tắc kè đá và Dứa rừng.

4. Cộng đồng người Sán Dìu tại địa phương đã thống nhất lựa chọn những bài thuốc nào để ưu tiên lưu giữ và bảo tồn?
Thông qua thảo luận nhóm tập trung, cộng đồng đã thống nhất chọn 7 bài thuốc gắn liền với 18 loài cây thuốc thiết yếu để ưu tiên bảo tồn tại chỗ, bao gồm: bài thuốc chữa rắn cắn, bài thuốc chữa bệnh tiểu đường, bài thuốc chữa huyết áp cao, bài thuốc chữa bệnh sỏi thận, bài thuốc chữa tắc tia sữa ở phụ nữ đang nuôi con, bài thuốc chữa bệnh dạ dày và bài thuốc chữa bệnh đau lưng.

5. Phương pháp định danh khoa học cho các loài cây thuốc được tác giả thực hiện như thế nào?
Tác giả thu mẫu tiêu bản khô kết hợp chụp ảnh ngoài thực địa, sau đó dùng phương pháp hình thái so sánh, đối chiếu mẫu vật với các khóa phân loại và bộ "Danh lục các loài thực vật Việt Nam". Các mẫu phân loại phức tạp được gửi giám định trực tiếp bởi các chuyên gia thực vật thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng giảng viên các trường đại học tại tỉnh Thái Nguyên.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trương Thị Thùy Linh đã phản ánh hệ thống nguồn tài nguyên 104 loài cây thuốc lâm sản ngoài gỗ gắn liền với tri thức bản địa của đồng bào dân tộc Sán Dìu tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Công trình đã lượng hóa chi tiết tỷ lệ sử dụng bộ phận thực vật, đặc điểm thu hái theo giới tính, đồng thời ghi nhận công thức bào chế của 13 bài thuốc dân gian trị các nhóm bệnh phổ biến. Nghiên cứu thiết lập thang điểm đánh giá nguy cơ đe dọa, xác định 8 loài cây thuốc và 7 bài thuốc cấp thiết cần bảo tồn, cung cấp căn cứ thực tiễn phục vụ quản lý tài nguyên rừng và duy trì bản sắc văn hóa y học dân tộc tại địa phương.