Đặt vấn đề Theo định nghĩa, lâm sản ngoài gỗ (LSNG) bao gồm những sản phẩm không phải gỗ có nguồn gốc sinh vật đƣợc khai thác từ rừng tự nhiên, rừng trồng, và có nhiều giá trị sử dụng. Nhƣ vậy, LSNG là một bộ phận chức năng quan trọng của hệ sinh thái rừng. Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một đơn vị của tự nhiên, một thể thống nhất, biện chứng của các loài cây gỗ lớn, cây bụi thảm tƣơi, thực vật ký sinh, phụ sinh, dây leo, các động vật, vi sinh vật, các chất hữu cơ, vô cơ…. Tập hợp các cây, con cho sản phẩm LSNG là một bộ phận hợp thành của đơn vị tự nhiên đó, rất phong phú cả về số loài cây, tuổi cây, dạng sống, ứng dụng và giá trị của nó.
Tóm lại, LSNG vừa có ý nghĩa kinh tế, vừa có ý nghĩa đa dạng sinh học. Lâm sản ngoài gỗ không những góp phần quan trọng về kinh tế xã hội mà còn có giá trị lớn đối với sự giàu có của hệ sinh thái và sự đa dạng sinh học của rừng. Đã từ lâu, lâm sản ngoài gỗ đƣợc sử dụng đa mục đích trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nhƣ làm dƣợc liệu, đồ trang sức, đồ gia dụng, hàng thủ công mỹ nghệ, thực phẩm…, do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Tuy nhiên, sự thiếu hiểu biết về đặc tính và công dụng của các loại lâm sản ngoài gỗ đã hạn chế nhiều giá trị kinh tế của chúng.
Hơn nữa, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một số loại lâm sản ngoài gỗ đang bị cạn kiệt cùng với sự suy thoái của rừng. Nhƣ vậy, vấn đề đặt ra là phải nâng cao hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ để quản lý, khai thác, sử dụng, chế biến, tiêu thụ và phát triển bền vững nguồn tài nguyên quí giá này. Cây thuốc dân gian từ lâu đã đƣợc nhiều ngƣời quan tâm đến, đây là nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phƣơng n 2 trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn cò giá trị trong việc bảo tồn gen cung cấp cho lĩnh vực dƣợc học. Chính vì vậy mà ta có thể khẳng định đƣợc rằng lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài ngƣời luôn gắn liền với tự nhiên nói chung và với LSNG nói riêng.
Do vậy chúng đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống của nhân dân. Thái Nguyên là một vùng đất có sự ƣu đãi của thiên nhiên với thảm thực vật phong phú, đồng thời là nơi có nhiều đồng bào dân tộc sinh sống nhƣ: Dao, Tày, Sán Chí, Nùng, Sán Dìu. Mỗi dân tộc lại có bản sắc riêng và kinh nghiệm chữa bệnh về cây cỏ làm thuốc rất đa dạng. Ngƣời dân tộc Sán Dìu ở xã Vô Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên cũng có nhiều kinh nghiệm độc đáo trong việc chữa bệnh bằng cây thuốc.
Vì vậy việc điều tra thực vật làm thuốc theo kinh nghiệm của ngƣời Sán Dìu là một việc làm rất cần thiết, góp phần gìn giữ và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc của cộng đồng dân tộc Sán Dìu. Xuất phát từ lý do trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tri thức bản địa trong việc sử dụng một số loài cây LSNG để làm thuốc của đồng bào dân tộc Sắn Dìu tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu Xác định đƣợc danh mục các loài thực vật làm thuốc và một số bài thuốc của ngƣời dân Sán Dìu ; các loài cây thuốc và các bài thuốc cần đƣợc ƣu tiên bảo tồn tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài a) Trong học tập và nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là cơ hôị giuṕ cho sinh viên cun̉ g cố kiêń thƣć đã hoc̣ đƣơc̣ trong quá trin ̀ h hoc̣ tâp̣ taị trƣơǹ g và vâṇ duṇ g chuń g vaò thƣc̣ tiêñ.
n 3 Qua đó ren ̀ luyên ̣ đƣợc kỹ năng lam ̀ việ c, kỹ năng giao tiêṕ vơí ngƣơì dân , kỹ n ăn g t h u t h âp ̣ thông tin của sinh viên. b) Trong thực tiễn sản xuất Viêc̣ thƣc̣ hiên ̣ nghiên cƣú đề taị giuṕ thu thâp̣ thông tin tƣ̀ ngƣơì dân ̉ g v ân thông qua ph on ́ và điêù tra taị điạ baǹ nghiên cƣú nên độ tin cây cuả thông tin cao và có cơ sở khać h quan để đề xuât́ cać giaỉ phaṕ trong quan ̉ lý và phat́ triên ̉ b ên ̀ vƣn ̃ g. Đề taì goṕ phâǹ cho viêc̣ giǹ giƣ̃ và phat́ triên̉ cać bà i thuôć cuả ngƣơì dân tôc̣ San ́ D iù nhăm ̀ baỏ tôǹ tri thƣć ban̉ điạ và nhƣñ g giá trị văn hoá cuả ngƣơì dân viêṭ nam. Hơn thế đề taì nghiên cƣú giuṕ giơí thiêụ vơí moị ngƣơì nhƣñ g cây thuôć và baì thuôć giup ́ cho viêc̣ chƣã cać bêṇ h mà ngƣơì dân hay găp̣ phaỉ tƣ̀ đ o ́ ch o t h ấ y t âm ̀ q u a n t ro n ̣ g cuả cây thuôć nam so vơí việ c sƣ̉ duṇ g cać loaị thuôć Tây đƣơc̣ ƣa chuôn ̣ g hiêṇ nay.
n 4 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Ngay từ thời xa xƣa khi con ngƣời còn sống trong xã hội nguyên thủy, ngƣời ta đã biết lựa chọn và sử dụng các loại cây cỏ sẵn có để làm thuốc chữa bệnh và bảo vệ sức khỏe. Vốn kinh nghiệm này ngày càng đƣợc tích lũy, sàng lọc và bổ sung thêm để tạo dựng nên một nền Y – Dƣợc học cổ truyền có bản sắc riêng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và trên thực tế, nền Y học cổ truyền (YHCT) đó đã đảm nhận vai trò chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân và đồng hành cho đến khi có Y học hiện đại du nhập vào nƣớc ta. Do đó gìn giữ vốn kiến thức quý báu trong việc sử dụng cây thuốc, bài thuốc đông y là việc hết sức cần thiết.
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), khoảng 80% dân số hiện nay trên thế giới vẫn dựa vào thuốc có nguồn gốc tự nhiên trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng (Akerele). Trong tuyên ngôn Alma Alta năm 1978 và “Hƣớng dẫn đánh giá y học cổ truyền “ năm 1991, WHO luôn khuyến nghị dùng các thuốc cổ truyền vào chăm sóc sức khỏe ban đầu, đánh giá mức độ an toàn và hiệu quả cũng nhƣ bảo đảm nguồn cung cấp những thuốc này. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 2.Trên thế giơí Trên thế giơí viêc̣ loaì ngƣơì khai thać và sƣ̉ duṇ g cać loaì cây LSNG ̀ thuôć đã có tƣ̀ rât́ lâu đơì tƣ̀ khi xuât́ hiêṇ con ngƣơì trên traí đât́ đên l am ́ b ây giơ.̀ Cać baì thuôć tƣ̀ đơn gian̉ đêń phƣć tap̣ đƣơc̣ con ngƣơì sƣ̉ duṇ g để phuc̣ vụ cho viêc̣ chăm soć sƣć khoẻ cho chiń h ban̉ thân minh, chƣã trị cho ngƣơì khać và cać nhu câu ̀ cuôc̣ sôń g cuả miǹ h. Môĩ dân tôc̣ khać nhau trên thế giơí đêù có nhƣn ̃ g phƣơng phap ́ và cać h sƣ̉ duṇ g cây thuôć riêng b iêṭ đ ăc̣ trƣng cuả dân tôc̣ min ̀ h.
n 5 Vào năm 2005, chính phủ New South Wales thiết lập một Tiêu chuẩn của việc Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên chất lƣợng, nhằm nâng cấp tính bền vững trong thực tế dựa trên mục tiêu quản lý thích ứng. Ở Hoa Kỳ, các khu vực quản lý tài nguyên thiên nhiên là quản lý cuộc sống hoang dã thƣờng có liên quan đến du lịch sinh thái và quản lý đồng cỏ. Ở Úc, chia sẻ nƣớc nhƣ các lƣu vực cũng là các lĩnh vực quản lý chính. Ở Việt Nam, việc quản lý tài nguyên khoáng sản, tài nguyên biển đƣợc chú trọng phát triển với mục tiêu năm 2050 Việt Nam là quốc gia khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý, hiệu quả và bền vững.
Theo ƣớc tính của quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 35.000 loài trong số 250.000 loài cây đƣợc sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới. Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện nay đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khỏe, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hóa. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nƣớc đang phát triển có nhu cầu chăm sức khỏe ban đầu phụ thuộc vào nguồn dƣợc liệu hoặc qua các chất sóc chiết suất từ dƣợc liệu. [6] Theo thông tin của tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đến năm 1985 trên toàn thế giới đã biết tới 20.000 loài thực vật bậc thấp cũng nhƣ bậc cao (trong tổng số hơn 250.000 loài thực vật đã biết) đƣợc sử dụng trực tiếp làm thuốc hay có xuất xứ cung cấp các hóa chất để làm thuốc (N.
Theo Napralert năm 1990 con số này đƣợc ƣớc tính từ 30.000 loài cây thuốc. Trong đó ở Trung Quốc đã có tới trên 10.000 loài thực vật đƣợc gọi là cây thuốc, Ấn Độ hơn 6000 loài, vùng nhiệt đới Đông Nam Á khoảng 6500 loài. [7] Tƣ liệu từ tổ chức bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế (IUCN) cho biết hiện nay trong tổng số 43.000 loài thực vật mà tổ chức này n 6 có thông tin thì có tới 30.000 loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở các mức độ khác nhau. Trong tập tài liệu "Các loài thực vật bị đe dọa ở Ấn Độ" xuất bản năm 1980 đã đề cập tới 200 loài, trong đó phần lớn là các loài cây thuốc.
Theo sách đỏ về thực vật của Trung Quốc, năm 1996 cũng giới thiệu tới gần 200 loài đƣợc sử dụng làm thuốc cần bảo vệ. Lược sử các nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam Nghiên cứu về cây thuốc ở Việt Nam đã có lịch sử rất lâu đời và có sự thay đổi nhất định qua các thời kì khác nhau, có thể chia ra làm các giai đoạn sau. a) Thời kì Pháp thuộc đến Cách mạng tháng 8 năm 1945 Dƣới thời kì Pháp thuộc có một sự cạnh tranh chia rẽ sâu sắc giữa YHCT và YHPĐ. Giai đoạn này, không có một công trình nghiên cứu về cây thuốc của Việt Nam nào đƣợc tiến hành do nền YHCT bị chính quyền thực dân Pháp đàn áp và bóp nghẹt không cho phát triển.