CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Xoay quanh nội dung về năng lực cạnh tranh có thé nhac đến chuỗi nghiên cứu của tác giả Michael E. Porter, theo đó tác giả đã có ba đầu sách gồm: Chiến lược cạnh tranh, lợi thế cạnh tranh và lợi thế cạnh tranh quốc gia.
Cụ thé: Một nghiên cứu về “các chiến lược cạnh tranh” của Michael E. Porter (1985) trình bày các công cụ cạnh tranh hiệu quả nhất: Trong đó chú trọng chiến lược chi phí thấp, cùng các hoạt động có cấu trúc để định vị chiến lược (Michael E. Nghiên cứu của Michael E. Porter (1985) về “Lợi thế cạnh tranh” đưa ra khái niệm về chuỗi giá trị bên trong doanh nghiệp.
Theo đó, các doanh nghiệp tạo nên lợi thế cạnh tranh của mình dựa trên cơ cở xây dựng chuỗi giá tri; đồng thời tận dụng các tiềm năng bên ngoài doanh nghiệp” (Michael E. Cũng theo nghiên cứu của Michael E. Porter (1990) trong “Lợi thé cạnh tranh quốc gia” đã nhận định rằng sự cạnh tranh dựa trên chất lượng và nhờ vậy nhiều công ty cạnh tranh với nhau. Ông chỉ ra cá yếu tố như tài nguyên hay năng suát lao động chưa phản ánh day đủ lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Nghiên cứu của James Pearson et.al (2015) đã nghiên cứu về “Chiến lược cạnh tranh của các hãng hàng không trong mạng lưới châu Á nhằm cạnh tranh với những hãng hàng không giá rẻ”. Nội dung nghiên cứu: “Bài báo đã xem xét kha năng chiến lược của 22 trong số các hãng hàng không mạng hàng đầu châu Á trong việc cạnh tranh với những hãng hàng không giá rẻ (LCC), có được bằng cách phân tích dir liệu bảng câu hỏi từ các hãng hàng không này về 37 câu trả lời cạnh tranh trên sáu loại câu trả lời riêng rẽ. Kết quả cho thấy năng lực chiến lược là khác nhau, trong đó Vietnam Airlines có năng lực chiến lược tốt nhất khi cạnh tranh với những LCC và SilkAir yếu nhất. Trong số những hãng khác đang cạnh tranh trực tiếp với các LCC, Malaysia Airlines và Garuda Indonesia có năng lực tốt hơn trong khi Philippine Airlines thì không.
Tuy nhiên, cả ba cần phản ứng mạnh hơn nữa với các LCC. Nhìn chung, mạng lưới các hãng hàng không trong khu vực Đông Nam Á có năng lực chiến lược mạnh nhất và Đông Bắc Á yếu nhất”. Nghiên cứu của Weisheng Lu và cộng sự (2018) về Những yếu tố thành công then chốt trong đối với năng lực cạnh tranh của các nhà thầu Trung Quốc. Nghiên cứu xác định những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của nhà thầu bao gồm: Kỹ năng quản lý dự án, cơ cau nhân sự, nguồn lực, chiến lược cạnh tranh, mối quan hệ, tài chính, marketing và công nghệ.
Nghiên cứu cũng cung cấp những hiểu biết sâu sắc về quản lý năng lực cạnh tranh cho các nhà thầu đang hoạt động trong bối cảnh cụ thé của ngành xây dựng Trung Quốc. Nghiên cứu của Noni Symeonidou et.al (2022), nghiên cứu về “Nguồn gốc của năng lực cạnh tranh: Chiến lược phân bồ nguồn lực, phát triển năng lực và hiệu quả hoạt động của các công ty mới”. Nội dung nghiên cứu: “Dựa trên Khảo sát theo chiều dọc của Công ty Kauffman về các công ty khởi nghiệp tại Hoa Kỳ, nhóm tác giả khám phá các tác động về hiệu suất của phạm vi rộng và hẹp trong việc phát triển năng lực chức năng của các công ty mới và cho thay rằng việc tập trung hơn là phát triển năng lực có lợi cho hiệu suất doanh thu cao hơn, mặc dù tài chính và sự sẵn có của nguôn tri thức kiểm soát mối quan hệ này. Nghiên cứu phát triển năng lực trong các doanh nghiệp khởi nghiệp cung cấp cho chúng ta hiểu biết về phát triển năng lực trong bất kỳ doanh nghiệp nào cạnh tranh trong điều kiện hạn chế về thời gian và nguồn lực”.
Nghiên cứu trong nước Những nghiên cứu gần đây về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng như sau: Nghiên cứu của tác giả Trương Hoài Trang (2017), tác giả phân tích về thực tế năng lực cạnh tranh của nhóm các doanh nghiệp thuộc công ty mảng bưu chính viễn thông tại TP. Tuy không phải nghiên cứu trong lĩnh vực bảo hiểm tuy nhiên dé tài hệ thống lý thuyết khá đa dạng về năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, đây là nguồn lý thuyết tham khảo quan trọng giúp tác giả vận dụng nhiều hơn trong nghiên cứu của mình. Nghiên cứu của Nguyễn Hồng Điệp (2018), tìm hiểu về năng lực cạnh tranh của Tổng công ty Cổ phần Bảo hiểm Dau khí Việt Nam. Đây là công ty bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu Việt Nam, do đó những nguồn lực mà công ty Bảo hiểm dầu khí có được rất đáng dé các doanh nghiệp khác hoc hỏi.
Trên cơ sở phân tích chuỗi giá trị của công ty bảo hiểm dầu khí Việt Nam, tác giả đã làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những lý do làm nên thương hiệu dẫn đầu ngành bảo hiểm phu nhân thọ của công ty. Thông qua phân tích thực trạng, những giải pháp tác giả đề xuất để công ty Bao hiểm dau khí tiếp tục giữ vững thị phần của mình bao gồm nhóm giải pháp về tài chính, nhân lực; đặc biệt là công nghệ. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương (2018), đề tài phân tích và làm rõ về các nội dung liên quan đến ndng cao năng lực cạnh tranh của Công ty bảo hiểm Pjico Thái Nguyên. Cùng là thành viên cua Tổng Công ty bảo hiểm Petrolimex, công ty Pjico Ha Nội đã có những thành công nhất định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của mình; đặc biệt là ưu thế về tài chính và nguồn nhân lực giúp công ty từng bước khăng định thương hiệu; tuy nhiên công ty hạn chế về các hoạt động marketing và quản lý hoạt động mạng lưới thiếu hệ thống.
Do đó, những giải pháp tác giả đề xuất tập trung mở rộng hình ảnh thương hiệu, nâng cao chất lượng nhân lực của công ty giúp mở rộng thị phần tại thị trường Thái Nguyên. Nghiên cứu của Trần Ngọc Trang (2020), luận văn được thực hiện theo hướng nghiên cứu dé tìm ra các yếu tố có tac động đến năng lực cạnh tranh đối với nhóm doanh nghiệp bán lẻ ngành hàng về tiêu dùng ở nước ta. Sử dụng mô hình hồi quy dé phân tích các yêu tố có tác động gồm tài chính, yếu tố về quản trị, yếu tố marketing, yếu tố thương hiệu, văn hóa tổ chức, nhân lực và sự quan tâm của chính quyền địa phương. Nghiên cứu của Trần Thế Hoàng (2020), nghiên cứu này thực hiện đối với lĩnh vực xuất khẩu thủy sản thông qua nghiên cứu một số nhóm doanh nghiệp đặc thù.
Nghiên cứu vận dụng ma trận SWOT để phân tích các yếu tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Nhóm các yếu tố được sử dụng để phân tích năng lực cạnh tranh doanh nghiệp thủy sản gồm: Yếu tố quản trị, hoạt động nghiên cứu va phát triển; yếu tố công nghệ, quan hệ ngoại giao, yếu tố nhân lực, uy tín thương hiệu; năng lực giải quyết xung đột. Trong nghiên cứu này tác giả đưa các yêu tố mới như năng lực giải quyết xung đột hay mối quan hệ vào nghiên cứu. Nghiên cứu của Đặng Minh Luân (2021), bài báo được thực hiện theo hướng nghiên cứu những nhân tô có tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) khu vực Binh Dương.
Tac giả thực hiện khảo sát với 249 doanh nghiệp nhỏ và vừa và phân tích mô hình nghiên cứu theo phương pháp hồi quy bội. Qua đó cho thấy yếu tố có ảnh hưởng nhiều nhất là năng lực quản lý doanh nghiệp; yếu t6 ảnh hưởng thứ hai là cơ sở vật chất; tiếp theo sau là tài chính; tiếp đến là năng lực đáp ứng thị trường và sau cùng là yếu tố marketing. Qua nghiên cứu tác giả đưa ra một vài khuyến nghị liên quan đến các yếu tố này dé các doanh nghiệp Bình Dương cải thiện hơn năng lực của mình. Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung các nghiên cứu nước ngoài liên quan đến cơ sở lý luận cho hoạt động nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ở cấp độ quốc gia và cấp doanh nghiệp thông qua bộ lý thuyết về cạnh tranh của Michael E.
Các nghiên cứu ở lĩnh vực khác nhau giúp đa dạng nguồn tài liệu tham khảo cho đề tài này. Về các nghiên cứu trong nước đã góp phần hệ thống hóa và hoàn thiện hơn về lý luận về chiến lược cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của ngành, của doanh nghiệp và được nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực và quy mô trước đây. Tuy nhiên có ít nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong lĩnh vực Bảo hiểm và tính đến thời điểm hiện tại chưa có nghiên cứu nào liên quan đến “Năng lực cạnh tranh công ty bảo hiểm Pjico Hà Nội”; cộng với sự thay đôi của môi trường kinh doanh nói chung và lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng sau đại dịch covid 19 đặt công ty Pjico Hà Nội trong bối cảnh mới cần nâng cao năng lực của mình. Do đó việc thực hiện nghiên cứu này tránh với việc trùng những nghiên cứu đã thực hiện trước.
Cơ sở lý luận về cạnh tranh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về cạnh tranh doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng dé thu lợi ngày càng cao hơn. Như vậy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp. Đây chính là yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp, không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tô chức quản trị doanh nghiệp.
một cách riêng biệt mà cần đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh trong hoạt động trên cùng một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở so sánh đó, muốn tạo nên năng lực cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình. Cạnh tranh được coi như là nền tảng của chủ nghĩa tư bản vì cạnh tranh có khả năng kích thích sự đổi mới, nâng cao hiệu năng cũng như làm giá cả, cạnh tranh còn được xem như hình mẫu dé chủ nghĩa tư bản tự điều chỉnh lại chính mình. Theo lý thuyết vĩ mô, không có một hệ thống phân phối nguồn lực nào hiệu quả hơn cạnh tranh lành mạnh.