Chương 1 NHUNG VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐÌNH CÔNG VÀ GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG 1. Một số vấn đề lý luận về đình công 1. Khái niệm đình công Quyền đình công đã được quốc tế công nhận và quy định trong Điều 8 Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên hợp quốc năm 1966. Tuy nhiên, Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) lại không có một công ước riêng về đình công.
Vấn đề đình công được xem là quyền tự do liên kết và quyền tổ chức của người lao động (Công ước lao động quốc tế số 87 về quyền tự do liên kết và quyền tổ chức và Công ước lao động quốc tế số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể). Quan điểm của IỊO về vấn dé đình công được thể hiện tập trung trong Ban tổng khảo sát về quyền tự do liên kết và thương lượng tập thể do Uỷ ban các chuyên gia về việc áp dung Công ước và Khuyến nghị cua ILO trình bày tại Hội nghị lao động quốc tế kỳ 69 (năm I983). ILO cho rằng quyền đình công là một trong những biện pháp thiết yếu người lao động và các tổ chức của họ có thể sử dụng để xúc tiến và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình, không chỉ nhằm đạt tới những điều kiện làm việc tốt hơn hoặc có những yêu cầu tập thể mang tính chất nghề nghiệp, mà còn nhằm tìm ra những giải pháp cho các vấn đề chính sách kinh tế và xã hội và các vấn đề lao động bất kỳ loại nào mà người lao động trực tiếp quan tam. 165] Như vậy, ILO không đưa ra một định nghĩa về đình công (không nêu ra các dấu hiệu để nhận dạng đình công và phân biệt đình công với các hiện tượng xã hội gần giống nó) mà IIO chỉ chỉ ra rằng đình công là một trong những biện pháp để bảo vệ người lao động và đình công nhằm đạt được các mục đích về kinh tế-xã hội.
Trên thế giới hiện nay có hai trường phái. Ở một số nước phát triển, quyền đình công được coi là quyền đương nhiên của người lao động về quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể. Là một nước tư bản chủ nghĩa lâu đời, vấn đề đình công ở CHLB Đức là rất quen thuộc, rất thông thường, thậm chí không cần thiết phải có luật liên bang (cũng như Anh, úc, thậm chí chỉ là luật “bất thành văn”). Việc xét đoán vấn đề đình công ở CHLB Đức chỉ theo án lệ.
Tại Cộng hoà Pháp, mặc dù quyền đình công của người lao động được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Lao động, song quốc gia này cũng không đưa ra một khái niệm đầy đủ và thống nhất về đình công trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Ở một số nước đang phát triển (hầu hết các nước ASEAN) đều có luật về đình công. Malaixia và Singapor quy định về đình công trong Luật công đoàn. Philippin quy định vấn đề đình công trong Bộ luật Lao động.
Thái Lan quy định về đình công trong Luật quan hệ lao động. Nhìn chung, không phải quốc gia nào khi thừa nhận quyền đình công cũng đưa ra khái niệm đình công và quyền đình công dù quy định cụ thể trong luật hay không đều xuất phát từ quyền thương lượng tập thể; có nghĩa là đình công chỉ phát sinh từ thương lượng tập thể. Ở Việt Nam hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm đình công. Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Đình công là một dạng bãi công ở quy mô nhỏ trong một hay nhiều xí nghiệp, cơ quan, thường không kèm theo những yêu sách về chính tri”[40, tr.
I19] Theo giáo trình Luật Lao động Việt Nam của trường Đại học Luật Hà Nội: “Đình công là sự ngừng việc tự nguyện, tạm thời, có tổ chức của tập thể lao động nhằm gây áp lực buộc bên sử dụng lao động hoặc chủ thể khác phải thoả mãn các yêu sách về quyền và lợi ích mà họ quan tâm”. Tại Điều 172 Bộ luật lao động đã sửa đổi bổ sung: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có tổ chức của tập thể lao động để giải quyết tranh chấp lao động)". Như vậy, có thể thấy rằng khó có thể thống nhất các quan điểm về khái niệm đình công. Song khái niệm đình công được ghi nhận tại Điều 172 Bộ luật lao động đã sửa đối, bổ sung có thể coi là khái niệm chính thống, có giá trị pháp lý trong quá trình áp dụng pháp luật.
Những dấu hiệu cơ bản của đình công 1. Đình công là sự phan ứng của tập thể người lao động thông qua hành vi ngừng việc hoàn toàn (ngừng việc triệt để). Trong quan hệ lao động, người lao động có nghĩa vụ phải tuân thủ hợp đồng lao động và tuân theo sự quản lý của người sử dụng lao động. Một trong những nghĩa vụ của người lao động là thực hiện đúng thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ ngơi của cơ quan, đơn vị.
Nếu muốn nghỉ việc, người lao động phải được sự đồng ý của người sử dụng lao động. Trường hợp người lao động tự ý nghỉ việc mà không được sự đồng ý của người sử dụng lao động và không có lý do chính đáng, họ có thể phải chịu các hình thức kỷ luật như: khiển trách, kéo dài thời hạn nâng lương, chuyển làm công việc khác có mức lương thấp hơn và sa thải. Trong trường hợp xảy ra mâu thuẫn giữa tập thể lao động và người sử dụng lao động hay một chủ thể khác, tập thể lao động có thể ngừng việc nhằm gây áp lực buộc chủ thể kia phải chấp nhận các yêu sách. Đây được coi là dấu hiệu đầu tiên của đình công.
Sự ngừng việc trong đình công được thực hiện xuất phát từ ý chí chủ quan của tập thể lao động, là sự cố ý không thực hiện công việc nhằm tạo nên áp lực với chủ thể khác. Sự ngừng việc trong đình công khác với các trường hợp ngừng việc thông thường do những nguyên nhân nằm ngoài ý chí chủ quan của người lao động (như ngừng việc do nguyên nhân bất khả kháng, ngừng việc do lỗi của người sử dụng lao động, ngừng việc do hoàn cảnh khó khăn của người lao động). Một trường hợp là cố ý thực hiện hành vi ngừng việc, còn ở trường hợp kia là không muốn ngừng việc nhưng buộc phải ngừng việc do tác động của các yếu tố khác. Sự ngừng việc của tập thể người lao động được biểu hiện dưới nhiều mức độ khác nhau như lan công, làm việc “lấy lệ” (cam chừng) hay ngừng việc hoàn toàn.
Da số pháp luật các nước thừa nhận ngừng việc hoàn toàn (ngừng việc triệt để) là dấu hiệu để nhận dang và phân biệt đình công, các hành vi như lan công, làm việc cầm chừng bị coi là bất hợp pháp. Ngừng việc hoàn toàn là việc tập thể lao động sau khi chính thức tuyên bố đình công đã đồng loạt không làm việc, từ chối thực hiện bất kỳ nghĩa vụ lao động nào theo yêu cầu của chủ sử dụng lao động cho đến khi yêu sách của họ được đáp ứng hay khi có lệnh quay trở lại làm việc của nghiệp đoàn lãnh đạo đình công hoặc lệnh của cơ quan nhà nước có thẩm quyền [6, tr.22] Ngừng việc trong đình công chỉ là hành vi ngừng việc tạm thời (tạm ngừng quan hệ lao động) không phải là hành vi đơnphương chấm dứt quan hệ lao động. Những người lao động khi tiến hành đình công không nhằm mục đích chấm dứt quan hệ lao động mà họ chỉ muốn thông qua hành vi ngừng việc của mình để gây sức ép với người sử dụng lao động hoặc chủ thể khác nhằm đạt được những yêu sách nhất định và nếu đạt được họ sẽ san sang trở lại làm việc. Dinh công là hiện tượng phản ứng có tính tập thé do những người lao động tiến hành.
Tinh tập thé là một trong những dau hiệu cơ bản của đình công. Tính tập thể của một cuộc đình công đồng thời thể hiện ở hai dấu hiệu là có sự tham gia của nhiều người lao động và giữa họ có sự liên kết mật thiết, cùng ngừng việc vì mục tiêu chung. Dấu hiệu thứ nhất là dấu hiệu hình thức, đình công phải thể hiện ra bên ngoài là hành vi ngừng việc của nhiều người lao động. Luật pháp các nước đều có quy định một cách định tính hoặc định lượng về số lượng người tham gia đình công được coi là tập thể người lao động.
Nếu hành vi ngừng việc chỉ là của một cá nhân hoặc của một vài cá nhân thì đó là hành vi vi phạm ky luật lao động và người lao động có thể phải chịu các hình thức kỷ luật lao động. Tuy nhiên, nếu hành vi ngừng việc đó là của đông đảo người lao động nhưng giữa họ không có sự liên hệ mật thiết và không vì mục đích chung thì đó cũng không được coi là hành vi đình công. Như vậy, trong hai dấu hiệu nói trên, dấu hiệu thứ hai được coi là dấu hiệu nội dung, phản ánh bản chất tính tập thể của hành vi đình công. Pháp luật Cộng hoà Pháp còn thừa nhận sự ngừng việc của một cá nhân người lao động vì những mục đích mang tính tập thể là đình công.
Ví dụ, phán quyết ngày 39/3/1995 của Toà án ghi nhận: “Việc thực hiện quyền đình công không bị coi là mang tính cá nhân nếu người lao động tuân theo một lệnh tổng đình công toàn quốc”. Hay phán quyết ngày 13/11/1996 cho rằng: “Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ có một lao động thì người này là đại diện duy nhất bảo vệ các yêu sách nghề nghiệp của mình, có thể thực hiện một cách hợp pháp quyền đình công đã được công nhận” [6, tr. Đình công là hành vi ngừng việc tự nguyện Đình công là sự phản ứng của tập thể lao động nhằm gây sức ép với người sử dụng lao động hoặc chủ thể khác nên những người tham gia đình công thường có xu hướng thu hút và kêu gọi sự tham gia đông đảo của người lao động. Họ thường tìm cách vận động hoặc thậm chí ép buộc những người lao động khác tham gia đình công.
Hành vị ép buộc người lao động tham gia đình công hoặc ngăn can người lao động khác làm việc là hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm nguyên tắc tự nguyện của đình công. Luật pháp của đa số các nước trên thế giới và ở Việt Nam đều quy định cấm thực hiện những hành vi de doa, lừa dối hay ép buộc đình công.