Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm lập luận Hoạt động ngôn ngữ là hoạt động của tư duy. Tư duy sáng rõ thì ngôn ngữ sắc bén, trong sáng, dễ đạt được mục đích của hội thoại. Một trong những biểu hiện của tư duy ngôn ngữ chính là hệ thống lập luận mà người nói, người viết sử dụng trong quá trình giao tiếp.
Có nhiều loại lập luận được sử dụng tùy hoàn cảnh, văn phong, mục đích giao tiếp khác nhau. Đối với văn chính luận, hệ thống lập luận cần chắc chắn, sắc sảo, chính xác. Đối với văn nghệ thuật, hệ thống lập luận cần giàu hình tượng, giàu cảm xúc và có phần mềm mại. Người có nền tảng ngôn ngữ chắc chắn sẽ làm chủ được các phương pháp lập luận để dẫn dắt đối tượng giao tiếp đến mục đích cần đạt.
Trong sử dụng ngôn ngữ, người ta luôn dùng lập luận để thể hiện vấn đề, dùng các lý lẽ để chứng minh vấn đề, hướng người đọc (người nghe) hiểu và đồng tình với vấn đề, tức là dẫn dắt, thuyết phục người đọc (người nghe) hiểu được vấn đề theo cách mình muốn. Có như vậy thì người sử dụng ngôn ngữ mới đạt được mục đích của mình. Lập luận là cách nói, cách viết, là phương pháp thuyết phục người đọc (người nghe) thông qua việc sử dụng các lý lẽ. Do đó, cùng một nội dung, cùng hướng tới một mục đích nhưng với hai cách nói, hai cách viết, hai phương pháp trình bày khác nhau thì có thể dẫn đến hai kết quả khác nhau.
Như vậy, “Lập luận là một hoạt động ngôn từ. Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó; rút ra một (một số) kết luận hay chấp nhận một (một số) kết luận nào đó” [20, tr. Hay: “Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới” [14, tr. e 9 Ví dụ 1: “Lịch sử đã chứng minh nếu mơ hồ, dao động về nền tảng tư tưởng của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động.
Cách mạng nước ta cũng đã chứng minh trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều máy móc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì kết quả lãnh đạo của Đảng ở giai đoạn đó, lĩnh vực đó, nơi đó bị hạn chế, cách mạng sẽ gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Kinh nghiệm ở Đông Âu, Liên Xô đã chứng minh quan điểm đúng đắn của Đảng ta: mọi thành công hay thất bại của cách mạng đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, bất cứ nơi nào nào và lúc nào, Đảng nào xa rời những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin một cách giáo điều, duy ý chí, vi phạm những nguyên lý về đảng của giai cấp công nhân thì nhất định trước sau Đảng đó sẽ phạm sai lầm, đội ngũ Đảng sẽ chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và một điều chắc chắn dù sớm hay muộn thì cách mạng sẽ bị thất bại” [tr. Để khẳng định vai trò tối ưu trong lãnh đạo cách mạng của nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tác giả đã đưa ra 3 lý lẽ: “Lịch sử đã chứng minh nếu mơ hồ, dao động về nền tảng tư tưởng của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động”; thực tiễn lãnh đạo cách mạng của nước ta qua mỗi giai đoạn cách mạng, lĩnh vực công tác, địa phương; kinh nghiệm thất bại của Đông Âu, Liên Xô. e 10 Ví dụ 2: “Xuất phát từ yêu cầu thực tế, nhằm bảo đảm hiệu quả, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, Tỉnh ủy, UBKT Tỉnh ủy, các cấp ủy và UBKT cấp dưới kịp thời chỉ đạo xây dựng chương trình kiểm tra giám sát toàn khóa và cụ thể hóa thực hiện bằng chương trình kế hoạch kiểm tra giám sát hàng năm, kiểm tra giám sát việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Qua đó đã tạo được sự chuyển biến rõ nét trong công tác xây dựng Đảng bộ, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị đạo đức lối sống trong cán bộ Đảng viên góp phần củng cố” [tr. Lập luận trên được diễn đạt theo phương pháp quy nạp, đích của lập luận chính là: vai trò chỉ đạo của Đảng, Tỉnh ủy, UBKT Tỉnh ủy, các cấp ủy và UBKT cấp dưới trong công tác kiểm tra, giám sát hằng năm, kiểm tra giám sát việc thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Để khẳng định vai trò đó, người viết đã đi đến kết luận bằng những kết quả đã đạt được trong công tác kiểm tra giám sát của các tổ chức này. Ví dụ 3: “Trong các cuộc hội nghị, cũng như đi thực tiễn các địa phương, tôi thường thấy đồng chí quán triệt Nghị quyết Đại hội VI một cách nhẹ nhàng, dễ nhớ nhớ.
Ví dụ, đi đến đâu đồng chí cũng nói đến đổi mới, nhưng đổi mới là những gì đồng chí giải thích ngay, phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức cán bộ đổi mới phương pháp lãnh đạo và phong cách công tác” [tr. Trong ví dụ trên, tác giả đã dùng phương pháp diễn dịch để lập luận. Để người đọc hình dung về một phẩm chất cách mạng của Tổng bí thư e 11 Nguyễn Văn Linh tác giả đã giải thích rõ bằng các luận cứ: vì mục đích quán triệt đến quần chúng về Nghị quyết Đại hội VI, đồng chí giải thích rõ ràng và sâu sát về khái niệm đổi mới. Để làm sáng tỏ hơn khái niệm lập luận, chúng ta cần có những sự phân biệt cần thiết sau: 1.
Sự lập luận theo diễn từ chuẩn và sự lập luận trong ngôn ngữ Con người có thể dùng nhiều cách khác nhau để hành động bằng lời nói, tức hành vi ngôn ngữ. Trong hành vi ngôn ngữ, sự lập luận được xem như một hoạt động lập luận, hay là một hành vi ngôn ngữ. Hoạt động lập luận được phân biệt thành hai kiểu: lập luận theo diễn từ chuẩn và lập luận đời thường. Theo nghĩa truyền thống, sơ đồ lập luận cơ sở tạo thành tế bào trong một văn bản lập luận và hai phát ngôn có quan hệ suy diễn logic.
Đây là loại lập luận mà từ phát ngôn này sẽ suy ra phát ngôn khác một cách logic. Ở đây, các sự kiện, các cứ liệu làm nên luận cứ của lập luận, hay nói cách khác, các sự kiện và cứ liệu có liên hệ với nhau theo những quy luật logic xác định. Vì vậy, dựa trên sự kiện và quy tắc suy diễn logic, một lập luận được thực hiện sẽ không có vấn đề gì phải tranh luận nữa. Sự lập luận như thế được gọi là sự lập luận theo diễn từ chuẩn mực.
Ví dụ 4: “Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự do trong thảo luận và trong phê bình là những nguyên tắc cơ bản về và nề nếp trong xây dựng Đảng. Đồng thời có ý nghĩa vô cùng quan trọng khi chúng ta đang thực hiện đại hội đảng bộ các cấp tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 12 của Đảng theo tinh thần chỉ thị số 36 của Bộ Chính trị”[tr. Lập luận trên luôn luôn đúng, không có gì phải bàn cãi vì lịch sử đã chứng minh điều đó. Đây chính là lập luận theo diễn từ chuẩn mực.
Sự lập luận trong ngôn ngữ có khác Trong hoạt động ngôn ngữ, có những biểu thức ngôn ngữ định hướng cho một kiểu lập luận nào đó, nghĩa là định hướng cho một lập luận nào đó. Ví dụ 5: (1) Giá trị tài sản ăn cắp của Tuân và Sơn chỉ có 400 nghìn đồng. (2) Giá trị tài sản ăn cắp của Tuân và Sơn lên đến 400 nghìn đồng. (3) /Vì vậy/ bọn họ không đáng bị xử tội nặng.
(4) /Vì vậy/ bọn họ xứng đáng bị xử tội nặng. Ở ví dụ trên, câu (1) và câu (2) chi khác nhau ở hai từ “chỉ có” và “”lên đến” nhưng nghĩa của chúng lại trái ngược nhau. Ngược lại, câu (2) kết hợp với câu (4) lại tạo ra một định hướng nghĩa dương (tiêu cực): (5) (5a) Giá trị tài sản ăn cắp của Tuân và Sơn chỉ có 400 nghìn đồng. Vì vậy, bọn họ không đáng bị xử tội nặng.
(6) (5b) Giá trị tài sản ăn cắp của Tuân và Sơn chỉ có 400 nghìn đồng. Vì vậy, bọn họ không đáng bị xử tội nặng. Như vậy, qua ví dụ trên cho thấy, một phát ngôn ngoài nghĩa văn bản còn có tiềm năng ngữ nghĩa tạo ra chuỗi liên kết với các phát ngôn khác. “Theo nghĩa này, sự lập luận là một hoạt động - một thao tác ngôn ngữ, qua đó người nói đưa ra một hay một số phát ngôn làm luận cứ mà cấu trúc ngôn ngữ và nội dung của chúng đưa người nghe tới những chuỗi liên kết dẫn tới một kết luận nào đó” [23, tr.
Phương pháp hình thức và phương pháp không hình thức trong lập luận 1. Xét về phương pháp, có thể phân chia lập luận thành hai loại: Thứ nhất, những lập luận đi tới cách đánh giá về giá trị chân lý đúng sai của sự kiện. Thứ hai, những lập luận để tạo lập, làm thay đổi hay củng cố e 13 lòng tin và nhận thức của người nghe. Loại thứ nhất đòi hỏi phương pháp suy diễn hình thức, theo những khuôn mẫu suy luận chặt chẽ trong logic toán hay các khoa học chính xác.
Ở đây, chân lý được khẳng định qua các tiền đề và các quy tắc suy diễn theo một ngôn ngữ hình thức, nhân tạo và phổ quát, hiểu theo nghĩa mọi nơi, mọi người dùng những ngôn ngữ tự nhiên khác nhau cùng lập luận như thế. Theo nghĩa này, người ta nói tới một sự lập luận là chặt chẽ, chính xác hay không chặt chẽ, chính xác, tùy theo nó có xuất phát từ những tiền đề đúng hay không và sự suy diễn trong đó có hợp quy tắc hay không. Ở đây “sự lập luận” là những thao tác hình thức trong sự chứng minh. Tuy nhiên, chứng minh không đồng nhất với lập luận.