Phân tích lập luận trong các phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội qua luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ phân tích kỹ thuật lập luận trong các phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội, làm rõ phương pháp và hiệu quả thuyết phục.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
235
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài

1.3. Tình hình nghiên cứu về lập luận tại Việt Nam

1.4. Cơ sở lí luận và thực tiễn

1.4.1. Cơ sở thực tiễn

2. CHƯƠNG 2: CẤU TRÚC NỘI TẠI CỦA LẬP LUẬN TRONG CÁC LƯỢT LỜI TRÊN DIỄN ĐÀN QUỐC HỘI (QUA PHIÊN CHẤT VẤN)

2.1. Phân tích trường hợp

2.2. Định hướng tiếp cận

2.3. Thành phần lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

2.4. Chỉ dẫn lập luận trong các lượt lời (qua phiên chất vấn)

2.5. Kết luận trong các lượt lời (qua phiên chất vấn)

2.6. Mô hình lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

2.6.1. Mô hình lập luận dựa vào mối tương quan vị trí giữa luận cứ và kết luận

2.6.2. Mô hình lập luận dựa vào mức độ phức tạp của cấu trúc lập luận

3. CHƯƠNG 3: LẬP LUẬN TRONG HỘI THOẠI TRANH LUẬN TRÊN DIỄN ĐÀN QUỐC HỘI (QUA PHIÊN CHẤT VẤN)

3.1. Phân tích trường hợp

3.2. Định hướng tiếp cận

3.3. Đặc điểm lập luận qua các hành vi ngôn ngữ trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

3.4. Đặc điểm lập luận qua hành vi hỏi/ chất vấn, trả lời chất vấn

3.5. Đặc điểm lập luận qua hành vi điều khiển của người điều hành

3.6. Tranh luận trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

3.7. Mô hình tranh luận (qua phiên chất vấn)

3.8. Chất lượng tranh luận (qua phiên chất vấn)

3.9. Nhận xét về việc sử dụng lập luận trong hội thoại tranh luận trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

3.10. Nhận xét về việc sử dụng lập luận qua hành vi chất vấn, trả lời, điều hành

3.11. Nhận xét về việc sử dụng lập luận trong tương tác hội thoại tranh luận

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Luận án tiến sĩ này tập trung vào phân tích lập luận trong các phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội. Phần tổng quan nghiên cứu khái quát tình hình nghiên cứu về lập luận trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, lập luận được nghiên cứu từ góc độ logic hình thứclogic phi hình thức, với các công trình tiêu biểu của S. Toulmin và Perelman. Tại Việt Nam, nghiên cứu về lập luận còn hạn chế, chủ yếu dựa trên quan điểm logic hình thức và chưa xem xét lập luận trong bối cảnh tranh luận.

1.1. Tình hình nghiên cứu về lập luận ở nước ngoài

Nghiên cứu về lập luận trên thế giới bắt đầu từ thời Cổ đại, với các công trình của Aristotle. Đến thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu như S. Toulmin và Perelman đã phát triển các mô hình lập luận hiện đại, tập trung vào logic phi hình thức. Các hội nghị quốc tế như Hiệp hội Nghiên cứu Lập luận Quốc tế (ISSA)Hội thảo Châu Âu về Lập luận (ECA) đã thúc đẩy nghiên cứu về lập luận trong các lĩnh vực như chính trị học, ngôn ngữ học, và giao tiếp chính trị.

1.2. Tình hình nghiên cứu về lập luận tại Việt Nam

Tại Việt Nam, nghiên cứu về lập luận chủ yếu dựa trên quan điểm logic hình thức, với các công trình của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa xem xét lập luận trong bối cảnh tranh luận hoặc hội thoại. Luận án tiến sĩ này nhằm lấp đầy khoảng trống đó bằng cách phân tích lập luận trong các phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội.

II. Cấu trúc nội tại của lập luận trong các lượt lời

Luận án tiến sĩ phân tích cấu trúc nội tại của lập luận trong các lượt lời tại diễn đàn quốc hội. Các thành phần chính của lập luận bao gồm luận cứ, kết luận, và chỉ dẫn lập luận. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích diễn ngônmiêu tả để xác định các mô hình lập luận phổ biến.

2.1. Thành phần lập luận trong các lượt lời

Các thành phần chính của lập luận bao gồm luận cứ, kết luận, và chỉ dẫn lập luận. Luận án sử dụng phương pháp miêu tả để phân tích các thành phần này trong các lượt lời tại phiên chất vấn. Kết quả cho thấy, lập luận thường được xây dựng dựa trên mối tương quan giữa luận cứkết luận.

2.2. Mô hình lập luận trong các lượt lời

Luận án xác định hai mô hình lập luận chính: mô hình dựa vào mối tương quan vị trí giữa luận cứkết luận, và mô hình dựa vào mức độ phức tạp của cấu trúc lập luận. Các mô hình này được áp dụng để phân tích các lượt lời trong phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội.

III. Lập luận trong hội thoại tranh luận

Luận án tiến sĩ tập trung vào lập luận trong bối cảnh hội thoại tranh luận tại diễn đàn quốc hội. Các hành vi ngôn ngữ như hỏi, chất vấn, và trả lời được phân tích để làm rõ đặc điểm lập luận trong tương tác hội thoại. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích diễn ngônthống kê.

3.1. Đặc điểm lập luận qua các hành vi ngôn ngữ

Các hành vi ngôn ngữ như hỏi, chất vấn, và trả lời được phân tích để làm rõ đặc điểm lập luận trong hội thoại tranh luận. Kết quả cho thấy, lập luận trong phiên chất vấn thường được sử dụng để thuyết phục và tranh luận, với sự tham gia của các tác tử lập luậntác tử tình thái.

3.2. Tranh luận trên diễn đàn quốc hội

Luận án phân tích tranh luận tại diễn đàn quốc hội qua các phiên chất vấn. Các mô hình tranh luận và chất lượng tranh luận được đánh giá dựa trên các tiêu chí như tính thuyết phục và sự tương tác giữa các đại biểu. Kết quả cho thấy, tranh luận tại quốc hội cần được cải thiện để đạt hiệu quả cao hơn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ lập luận trên diễn đàn quốc hội qua những phiên chất vấn

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu các sách giáo khoa logic. Kể từ năm 1978, phong trào này chính thức thể hiện tiếng nói của mình trong tạp chí “Informal Logic” (Logic phi hình thức), do Blair và Johnson biên soạn. Mặc dù với tên gọi khác, logic phi hình thức không phải là một ngành logic mới. Đó là một cách tiếp cận thông thường để tranh luận trong ngôn ngữ hàng ngày.

Như vậy, logic phi hình thức có phạm vi rộng hơn logic hình thức. Theo các nhà logic phi hình thức, tính hợp lệ và sự hợp nhất của lập luận không giống với tính hợp lệ hình thức trong logic suy luận. Blair và Johnson (1987) lập luận rằng các tiền đề cho một kết luận phải thỏa mãn ba tiêu chí: (1) “sự xác đáng”, (2) “sự đầy đủ”, và (3) “khả năng được chấp nhận”. Với sự xác đáng, câu hỏi đặt ra là có hay không: sự liên quan thích đáng và đầy đủ về nội dung giữa các tiền đề và kết luận, hoặc, sự cung cấp đủ bằng chứng cho kết luận của các tiền đề; với khả năng được chấp nhận, có thể xảy ra, đáng tin cậy hoặc đúng của các tiền đề.

Mục tiêu của các nhà logic phi hình thức là phát triển những tiêu chuẩn, tiêu chí và phương pháp cho việc giải thích, đánh giá và xây dựng lập luận. Các giải pháp được tìm kiếm cho 7 vấn đề phần lớn là: phân tích các cấu trúc lập luận, lập các sơ đồ lập luận, đánh giá lập luận, nhận diện các lỗi, cách tiến hành một cuộc thảo luận, v. Trước tình hình đó, logic phi hình thức là một hướng nghiên cứu toàn diện, trong đó lí thuyết lập luận đóng vai trò trung tâm, được nghiên cứu một cách kĩ lưỡng. Có một sự chồng chéo nổi bật giữa các mục tiêu và phạm vi của logic phi hình thức và biện chứng dụng học.

Một sự khác biệt quan trọng là logic phi hình thức tập trung chủ yếu vào mối quan hệ giữa các tiền đề và kết luận, trong khi biện chứng dụng học bao quát tất cả các khía cạnh và giai đoạn của một cuộc TL quan trọng. Ngoài ra, các nghiên cứu logic phi hình thức sử dụng nhiều lí lẽ khác nhau trong khi biện chứng dụng học lại tập trung vào lí lẽ trực tiếp giải quyết sự bất đồng ý kiến. Sự khác biệt thứ ba bắt nguồn từ các cơ sở lí thuyết: trong phân tích lập luận, logic phi hình thức được thiết kế để khám phá các phẩm chất logic của diễn ngôn lập luận; biện chứng dụng học là để kiểm tra các đặc tính ngôn ngữ thực dụng được xem xét trong quá trình tái cấu trúc. Nghiên cứu lập luận từ quan điểm lập luận sai Tập trung vào các lập luận sai là một đóng góp đáng kể trong nghiên cứu lập luận.

Hướng nghiên cứu về lập luận sai (fallacies) có từ thời Aristotle, nhưng mãi tới năm 1970, công trình nổi tiếng Fallacies của C. Hamblin mới đặt ra những cách tiếp cận mới. Sau đó, được thực hiện bởi các nhà logic ở Canada: Woods và D. Cách tiếp cận hình thức của Woods và D.

Walton được thể hiện trong một loạt các bài báo và sách được viết chung hoặc độc lập. Các nguyên tắc cơ bản trong phương pháp tiếp cận của họ về các lập luận sai được giải thích trong công trình Lập luận: logic của những lập luận sai (Argument: Logic of the fallacies) (1982). Cách tiếp cận của Woods, D. Walton đối với các lập luận sai là “đa nguyên”.

Theo ý kiến của họ, các lập luận sai phải được phân tích theo những cách khác nhau. Quan điểm về phương pháp luận chung là các lập luận sai được phân tích một cách có ý nghĩa từ cấu trúc và lí thuyết về ngôn từ gắn với các hệ thống logic khác nhau, trong đó có hệ thống logic biện chứng. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là chúng sẽ được giải thích theo những kiểu logic nhất định. Theo quan điểm của Woods và D.

Walton, chúng sẽ là khác nhau tùy thuộc vào sai lầm trong câu hỏi phản biện. Chính họ đã tuyên bố rằng ít nhất một số ngộ biện/ ngụy biện nên được phân tích bằng một cách nào đó theo tiêu chuẩn hình thức. Khi phân tích lập luận sai, Woods và D. Walton dùng khái niệm biện chứng của Hamblin “bộ cam kết” và “rút lại” là công cụ phương pháp luận.

Vì vậy, phân tích của họ về các lập luận sai là theo định hướng hình thức, nhưng cũng biện chứng. Họ có xu hướng xếp những điều mà họ đã nhận ra thành ba mức độ “hình thức”. Đầu tiên, có những lập luận sai (chẳng hạn như lập luận sai 4 cơ sở) mà hình thức đặt theo cách thức nghiêm ngặt. Cấp độ 8 hình thức tiếp theo là những lập luận sai phi hình thức (chẳng hạn như những lập luận sai bởi sự mơ hồ) nếu xét một cách kĩ lưỡng, nhưng vai trò của chúng có thể được giải thích bằng cách tham chiếu đến các hình thức hợp lí.

Nhiều công trình nổi bật hơn của Woods và D. Walton nói về mức độ hình thức thứ ba được áp dụng cho các lí thuyết có khái niệm chính được phân tích bằng cách sử dụng ngôn ngữ và khái niệm của một hệ thống logic hoặc một số hệ thống hình thức khác. Walton (1982) nhấn mạnh tầm quan trọng về mặt lí thuyết của các lập luận sai điển hình như là những đặc điểm của các lập luận trong việc sử dụng ở thực tế. Một tính năng thực dụng của phương pháp tiếp cận này là thừa nhận nhiều ngữ cảnh, bối cảnh trong đó lập luận có thể được sử dụng.

Về mặt lí thuyết, tất cả các ngữ cảnh, bối cảnh này nên được xác định theo sự đánh giá chung của một cấu trúc đối thoại, nơi những người tham gia, các lượt lời, sự định vị, sự quan yếu, các yếu tố khác được xác định rõ ràng và chính xác trong sự trao đổi hội thoại. Danh sách các loại lập luận sai được đề cập đến trước hết là bởi các nhà logic học. Dựa trên những quy tắc suy luận, các nhà nghiên cứu nhận thấy thực tế sử dụng lập luận đã có nhiều trường hợp các cá nhân vi phạm quy tắc lập luận. Chúng được chia thành hai loại chính: lập luận sai ngôn ngữ (linguistic fallacies) và lập luận sai không phụ thuộc vào ngôn ngữ (non-linguistic fallacies).

Chúng còn được gọi là lập luận sai ngôn từ (verbal fallacies) và lập luận sai nội dung (material fallacies). Richard Whately lại phân chia lập luận sai thành hai nhóm: thuộc về logic và về nội dung. Theo ông, tiêu chí để phân chia hai loại này là có hay không có sự hợp lệ suy luận kết luận từ các tiền đề. Các lập luận sai logic không đảm bảo các quy tắc suy luận logic.

Trong khi đó các lập luận sai nội dung vẫn đảm bảo sự hợp lí trong phép suy luận từ tiền đề đến kết đề. Walton (1989) đã liệt kê ra các loại chính trong công trình: Informal logic [83, tr. Từ đó về sau đã có rất nhiều sự bổ sung khác nhau làm đầy cho danh sách các loại lập luận sai này (trên 200 loại tại [102]). Nghiên cứu lập luận từ quan điểm biện chứng hình thức Biện chứng hình thức đã được đưa ra bởi Barth và Krabbe trong From axiom to dialogue (1982), xây dựng dựa trên logic đối thoại của Lorenzen.

Họ mô tả một quy trình hình thức để kiểm tra xem một luận điểm đã cho có thể được duy trì một cách hợp lí dưới ánh sáng của các giả định nào đó hay không. Sự giải thích biện chứng của logic này được gọi là “biện chứng hình thức”. Trong lí luận, lập luận biện chứng hình thức được xem như là một cuộc đối thoại giữa người đề xuất và đối phương theo một chủ đề. Cả người đề xuất cùng đối thủ đều cố gắng tìm hiểu luận điểm có thể được bảo vệ thành công khỏi sự tấn công phê phán.

Trong sự tự vệ, người đề xuất có thể sử dụng 9 “sự nhượng bộ” của đối thủ (những phát biểu mà đối thủ sẵn sàng chịu trách nhiệm). Người đề xuất phải ngăn chặn bất kì cuộc tấn công nào đối với tuyên bố của chính mình. Anh ta có thể đưa ra một sự tự vệ trực tiếp hoặc thực hiện một cuộc phản công dựa trên “sự nhượng bộ” của đối thủ. Đối thủ có nghĩa vụ bảo vệ mọi “nhượng bộ” bị tấn công.

Nếu điều này dẫn đến việc anh ta không thể làm gì khác ngoài việc khẳng định điều mà đã tấn công sớm hơn trong cuộc đối thoại, khi đó, người đề xuất sẽ có lợi. Do đó, người đề xuất cố gắng điều chuyển đối thủ theo quan điểm này bằng cách khéo léo sử dụng các “nhượng bộ” của đối thủ. Nếu làm được như vậy, người đề xuất đã bảo vệ thành công quan điểm của mình nhờ vào các “nhượng bộ” của đối thủ. Các cuộc thảo luận được hình dung trong biện chứng hình thức về cơ bản khác với tranh luận thực tế thông thường.

Điểm bắt đầu giả định chỉ có thể xảy ra sau khi một bên trong cuộc thảo luận đã trình bày luận cứ để bảo vệ quan điểm. Nó phát sinh nếu hai bên quyết định khám phá xem quan điểm này có thể được duy trì trong ánh sáng của lập luận hay không. Các bên sau đó bắt đầu các thủ tục để kiểm tra xem quan điểm có thể được kết luận hợp lí từ các tiền đề đã trình bày trong lập luận hay không. Nếu thực sự tham gia với vai trò là đối thủ thì cần phải coi lập luận của người đề xuất là một tập hợp các “nhượng bộ” để làm cơ sở cho các “cam kết” của chính mình.

Nghiên cứu lập luận từ quan điểm biện chứng dụng học Có một số mối quan hệ trực tiếp giữa biện chứng hình thức và biện chứng dụng học [lí thuyết lập luận được phát triển bởi F. van Eemeren và Rob Grootendorst (1984, 1992)]. Việc sử dụng thuật ngữ chung “dialectic” (biện chứng), nên chúng có mục tiêu chung. Tuy nhiên, định hướng lí thuyết biện chứng dụng học khác với biện chứng hình thức.

Sự khác biệt này được thể hiện rõ ràng trong việc lựa chọn tiền tố pragma (tic) (thực dụng) thay vì formal (hình thức). Biện chứng dụng học (Pragma- dialectics) chủ yếu là một lí thuyết về diễn ngôn tranh luận, không phải là một lí thuyết logic. Không giống như các quy tắc biện chứng hình thức nhằm tạo ra các lập luận hợp lí, các quy tắc biện chứng dụng học nhằm giải quyết một sự khác biệt của ý kiến được dự tính như đại diện cho các điều kiện cần thiết để thực hiện một cuộc thảo luận quan trọng trong bài diễn ngôn tranh luận.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Phân tích lập luận trong các phiên chất vấn tại diễn đàn quốc hội" tập trung vào việc nghiên cứu và phân tích cấu trúc lập luận, chiến lược ngôn ngữ, và hiệu quả giao tiếp trong các phiên chất vấn tại Quốc hội. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức các đại biểu sử dụng ngôn ngữ để thuyết phục và tranh luận mà còn đưa ra các phương pháp phân tích khoa học, giúp độc giả hiểu rõ hơn về quy trình ra quyết định trong môi trường chính trị. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ học, chính trị học, hoặc giao tiếp trong môi trường nghị trường.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan, bạn có thể tham khảo 2 tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, một tài liệu cung cấp cái nhìn tổng quan về các nghiên cứu học thuật. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh thái bìnhLuận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma tuý trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc cũng là những tài liệu hữu ích để khám phá thêm về các vấn đề pháp lý và xã hội. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao hiểu biết của mình.