Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Lập luận trên diễn đàn Quốc hội qua những phiên chất vấn" do nghiên cứu sinh Nguyễn Diệu Thương thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam (mã số: 9220102), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Đức Dân và TS. Nguyễn Văn Lộc.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nghiên cứu lập luận là một nội dung trung tâm của logic học và ngôn ngữ học. Trên thế giới, các khuynh hướng nghiên cứu đã chuyển dịch mạnh mẽ từ logic hình thức sang logic phi hình thức, dụng học biện chứng, phân tích diễn ngôn và khai phá lập luận (argumentation mining). Trong khi đó, tại Việt Nam, các công trình ngôn ngữ học trước đây chủ yếu tiếp cận lập luận dưới góc độ ngữ nghĩa - miêu tả hoặc logic hình thức, tập trung xem xét cấu trúc nội tại của các phát ngôn đơn lẻ mà chưa đặt lập luận vào bối cảnh tương tác động của hội thoại tranh luận.

Về mặt thực tiễn, hoạt động của Quốc hội Việt Nam đang trong tiến trình đổi mới phương thức làm việc theo hướng chuyển từ "Quốc hội tham luận" sang "Quốc hội tranh luận" (theo định hướng chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XIV). Tại các phiên chất vấn và trả lời chất vấn, bên cạnh các lập luận chặt chẽ, thực tế vẫn xuất hiện những lập luận yếu hoặc chưa thuyết phục. Do đó, việc nghiên cứu một cách hệ thống các đặc điểm lập luận và tranh luận tại Nghị trường dựa trên lý thuyết lập luận hiện đại là yêu cầu xuất phát từ cả thực tiễn học thuật lẫn thực tiễn hoạt động nghị trường.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ đặc điểm của lập luận nhìn từ cấu trúc nội tại trong từng lượt lời và đặc điểm lập luận đặt trong sự vận động, tương tác tranh luận; từ đó nhận xét thực trạng sử dụng lập luận trong các hành vi hỏi/chất vấn, trả lời chất vấn, điều hành phiên họp và các mô hình tranh luận trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam nhằm hướng đến việc nâng cao hiệu quả lập luận.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Thu thập, tổng thuật các tài liệu lý thuyết về lập luận trên thế giới và tại Việt Nam; thu thập ngữ liệu văn bản ghi chép và băng hình truyền hình trực tiếp các phiên chất vấn tại Quốc hội Việt Nam.
  2. Thống kê, phân loại các thành phần cấu trúc lập luận (luận cứ, kết luận, lí lẽ), các phương tiện ngôn ngữ chỉ dẫn lập luận (kết tử, tác tử), các mô hình lập luận, các kiểu lập luận chưa thuyết phục, các hành vi ngôn ngữ (hỏi, trả lời, điều hành) và mô hình tương tác hội thoại.
  3. Phân tích, miêu tả, sơ đồ hóa cấu trúc lập luận và lược đồ hóa các tương tác tranh biện trong phiên chất vấn.
  4. Đưa ra nhận xét, đánh giá về thực trạng sử dụng lập luận và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng tranh luận nghị trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lập luận trong các phiên chất vấn trên diễn đàn Quốc hội Việt Nam, được xem xét ở hai bình diện: (1) Sản phẩm của quá trình suy luận từ tiền đề đến kết luận (cấu trúc nội tại của lượt lời); (2) Hành vi ngôn ngữ phức hợp trong hội thoại tranh luận.
  • Phạm vi không gian và nguồn tư liệu: Dữ liệu văn bản và ghi hình được trích xuất từ Cổng thông tin điện tử chính thức của Quốc hội Việt Nam (http://quochoi.vn).
  • Phạm vi thời gian và ngữ liệu: Khảo sát các phiên chất vấn trực tiếp (bao gồm các phiên chất vấn kết hợp thảo luận kinh tế - xã hội) từ Quốc hội khóa XI đến khóa XIV. Trong đó, mẫu khảo sát chuyên sâu gồm 206 lập luận (với 83 đại lập luận) tại hai phiên họp liên tiếp thuộc khóa XIII, kết hợp đối chiếu và kiểm chứng mở rộng trên ngữ liệu từ các khóa XI, XII và XIV.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu lập luận trên thế giới

Tác giả đã điểm lại lịch sử phát triển của lý thuyết lập luận từ thời cổ đại (Tu từ học của Aristotle) đến các trường phái hiện đại:

  • Mô hình cấu trúc lập luận: S. Toulmin (1958) với mô hình lập luận 6 thành tố thay thế cho tam đoạn luận truyền thống; Ch. Perelman và L. Olbrechts-Tyteca (1958, 1969) với lý thuyết "Tu từ học mới" (New Rhetoric) phân loại các kỹ thuật lập luận thực tế.
  • Logic phi hình thức (Informal Logic): Khởi xướng từ những năm 1970 tại Bắc Mỹ bởi J. Blair và R. Johnson (1978, 1987) trên tạp chí Informal Logic, tập trung đánh giá lập luận đời thường qua 3 tiêu chuẩn: sự xác đáng (relevance), sự đầy đủ (sufficiency) và khả năng chấp nhận (acceptability).
  • Nghiên cứu về lập luận sai (Fallacies): C. Hamblin (1970) với công trình Fallacies; J. Woods và D. Walton (1982, 1989) tiếp cận đa nguyên đối với các lỗi ngụy biện và ngộ biện trong đối thoại.
  • Biện chứng hình thức và Dụng học biện chứng (Pragma-dialectics): E. M. Barth và E. C. W. Krabbe (1982) với biện chứng hình thức; F. H. van Eemeren và R. Grootendorst (1984, 1992) xây dựng lý thuyết dụng học biện chứng, tích hợp lý thuyết hành vi ngôn ngữ của J. Searle và phương châm hội thoại của H. P. Grice để đề xuất 10 quy tắc tranh luận và mô hình 4 giai đoạn thảo luận phản biện.
  • Chủ nghĩa lập luận triệt để (Radical Argumentativism): O. Ducrot và J. C. Anscombre (1983) với công trình L'argumentation dans la langue, nghiên cứu các kết tử lập luận (connectors), tác tử lập luận (operators) và hiện tượng đa thanh (polyphony) trong cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ.
  • Tu từ học hiện đại và các hướng tiếp cận khác: Công trình của Foss và Trapp (1985), Farrell (1977), McKerrow (1977), Reboul (1988, 1990), Kopperschmidt (1977), Kienpointner (1991), Braet (1984); J. B. Grize với "Logic tự nhiên"; nhóm ngôn ngữ học Geneva (Roulet, Moeschler); M. Meyer (1986) với lý thuyết "Vấn đề học"; C. A. Willard (1983); Hample và Benoit (1992); F. van Eemeren và B. Garssen nghiên cứu lập luận chính trị tại Nghị viện Châu Âu; Petukhova, Malchanau, Bunt (2015) và Naderi (2016) nghiên cứu mô hình hóa và khai phá lập luận nghị trường bằng máy tính.

Tình hình nghiên cứu lập luận tại Việt Nam

  • Giai đoạn khởi đầu: Đỗ Hữu Châu (1996), Nguyễn Đức Dân (1996, 1998), Nguyễn Thiện Giáp giới thiệu lý thuyết lập luận ngữ dụng học và logic học, chủ yếu dựa trên lý thuyết của O. Ducrot.
  • Nghiên cứu phương tiện lập luận và văn bản chuyên ngành: Nguyễn Minh Lộc (1994) và Kiều Tập nghiên cứu kết tử nghịch hướng; Nguyễn Thị Thu Trang (2016) khảo sát toàn diện hệ thống kết tử lập luận tiếng Việt. Các luận án ứng dụng của Nguyễn Thị Hường (2010), Chu Thị Quỳnh Phương (2016), Nguyễn Thị Thắm (2019) nghiên cứu lập luận trong văn bản hành chính, văn học và luật tục.
  • Nghiên cứu kết hợp logic phi hình thức và lập luận sai: Nguyễn Đức Dân (2005, 2013), Lê Tô Thúy Quỳnh (2002), Trần Thị Giang (2005), Nguyễn Duy Trung (2014), Trần Trọng Nghĩa (2016). Nguyễn Minh (2016) nghiên cứu mối quan hệ giữa mạch lạc và ngụy biện theo hướng tiếp cận của D. Walton.
  • Tài liệu về kỹ năng nghị trường: Bài giảng của Trần Ngọc Đường (tổng quan về Quốc hội), Nguyễn Minh Thuyết (kỹ năng thu thập, xử lý thông tin và kỹ năng tranh luận của đại biểu Quốc hội).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù đã có nhiều công trình về lập luận trong tiếng Việt, chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào phân tích toàn diện hoạt động lập luận và tranh luận tại Nghị trường Quốc hội Việt Nam. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách tích hợp mô hình cấu trúc nội tại (Toulmin, Ducrot) với mô hình tương tác hội thoại biện chứng (van Eemeren, Walton) để phân tích diễn ngôn chất vấn tại Quốc hội.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp của 4 lý thuyết nền tảng:

[Khung lý thuyết tích hợp]
  1. Khái niệm lập luận: Được hiểu theo hai nghĩa: (1) Sản phẩm của quá trình suy luận từ tiền đề (luận cứ, lí lẽ) đến kết luận; (2) Hành vi ngôn ngữ phức hợp nhằm dẫn dắt người nghe chấp nhận một xác tín hoặc thực hiện một hành động.
  2. Mô hình lập luận của S. Toulmin (6 thành tố):
    • Dữ liệu (Data - D): Căn cứ, sự kiện thực tế ban đầu.
    • Biện minh/Lí lẽ (Warrant - W): Nguyên lý, quy tắc hoặc lẽ thường kết nối dữ liệu với kết luận.
    • Hỗ trợ biện minh (Backing - B): Cơ sở củng cố tính xác thực cho biện minh.
    • Hạn định (Qualifier - Q): Mức độ chắc chắn của tuyên bố.
    • Phản bác (Rebuttal - R): Các trường hợp ngoại lệ hoặc điều kiện bác bỏ.
    • Tuyên bố/Kết luận (Claim - C): Đích đến của lập luận.
  3. Chỉ dẫn lập luận (O. Ducrot, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân):
    • Tác tử lập luận (TTLL): Yếu tố làm thay đổi tiềm năng lập luận hoặc sức mạnh ở lời của phát ngôn (bao gồm cả tác tử tình thái - TTTT).
    • Kết tử lập luận: Gồm kết tử 2 vị trí (KT2VT), kết tử 3 vị trí (KT3VT), kết tử dẫn nhập luận cứ (KTDNLC), kết tử dẫn nhập kết luận (KTDNKL), kết tử đồng hướng và nghịch hướng.
  4. Hệ thống 7 kiểu hội thoại tranh luận (D. Walton, Krabbe, McBurney, Parsons):
Kiểu hội thoại Tình huống ban đầu Mục đích của người tham gia Mục đích của hội thoại
Thuyết phục Xung đột về ý kiến Thuyết phục người đối thoại Giải quyết hoặc làm rõ vấn đề
Điều tra Cần có chứng cứ Tìm và xác minh bằng chứng Chứng minh hoặc bác bỏ giả thuyết
Khám phá Cần tìm lời giải thích Tìm và bảo vệ giả thuyết phù hợp Chọn giả thuyết tốt nhất để kiểm tra
Đàm phán Xung đột về lợi ích Đạt được điều mình muốn nhất Giải quyết hợp lí, hai bên thỏa mãn
Tìm kiếm thông tin Cần thông tin Thu nhận hoặc đưa ra thông tin Trao đổi thông tin
Cân nhắc Tiến thoái lưỡng nan Phối hợp và hành động Quyết định phương án thực tế tối ưu
Tranh cãi cá nhân Xung đột cá nhân Phản đối đối phương bằng lời Bộc lộ sự xung đột sâu hơn
  1. Quy tắc tranh luận và 4 giai đoạn thảo luận (F. van Eemeren): 4 giai đoạn gồm: Đối đầu (Confrontation), Mở đầu (Opening), Lập luận (Argumentation), Kết thúc (Concluding), vận hành theo 10 quy tắc tranh luận hợp lý.
  2. Tiêu chuẩn một lập luận tốt: Gồm 7 tiêu chí: Tính hiệu lực (validity), Tính vững chắc (soundness), Tính rõ ràng (clarity), Tính đầy đủ (sufficiency), Tính quan yếu (relevance), Tính hợp lí (reasonability), Tính thuyết phục (cogency).
  3. Phân loại lập luận sai (Fallacies):
Nhóm lớn Tiểu loại lập luận sai
Vi phạm tính quan yếu - Đổi chủ đề, làm lạc hướng (tấn công cá nhân, ngụy biện "cá trích", đảo nghĩa vụ chứng minh, "anh cũng vậy", "hai sai thành một đúng").
- Viện dẫn không phù hợp (viện uy tín, quyền lực, bạo lực, nặc danh, lòng thương, cảm giác tội lỗi, đám đông).
- Dùng lí lẽ/dẫn chứng không quan yếu, nhân quả sai.
Quá trình suy luận sai - Quy nạp sai (khái quát hóa vội vã, ngụy biện "vòng", bằng chứng vụn vặt, ngụy biện "người rơm").
- Nhầm lẫn tam đoạn luận (suy luận tương tự sai, thống kê sai, ngụy biện "đống/bộ râu", kết luận ẩu).
- Làm lạc hướng bởi lí lẽ (lí lẽ chẻ đôi, dốc trượt, lợi dụng hậu quả).
- Suy luận từ mệnh đề sai/thiếu căn cứ (nguyên nhân giả post hoc, mệnh đề thiên lệch).
Lỗi sử dụng ngôn ngữ - Thay đổi yếu tố ngôn ngữ (thêm/bớt, tăng/giảm từ ngữ).
- Mơ hồ ngôn từ (từ ngữ mơ hồ, chủ đề mơ hồ, ngữ điệu mơ hồ).

Phương pháp và quy trình nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính dựa trên nghiên cứu trường hợp (case study), phối hợp các phương pháp và thủ pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp miêu tả: Miêu tả hình thức ngôn từ, cấu trúc nội tại và các dạng lập luận.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn: Phân tích các hành vi ngôn ngữ trong bối cảnh tranh luận nghị trường.
  • Thủ pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các lập luận chuẩn mực với lập luận yếu/sai.
  • Thủ pháp thống kê, phân loại: Khảo sát định lượng tần suất xuất hiện của kết tử, tác tử, các loại câu hỏi, câu trả lời và cấu trúc lập luận.

Quy trình phân tích lập luận 3 bước của luận án:

  • Bước 1: Phân tích, miêu tả các phương tiện ngôn từ để tường minh hóa cấu trúc phát ngôn (theo O. Ducrot).
  • Bước 2: Tường minh hóa các thành tố theo mô hình 6 yếu tố của S. Toulmin (D, W, B, C, Q, R).
  • Bước 3: Đánh giá lập luận như một hành vi ngôn ngữ đặt trong ngữ cảnh tương tác hội thoại (theo Dụng học biện chứng của van Eemeren và Walton).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và thực tiễn

Chương 1 hệ thống hóa các thành tựu lý thuyết về lập luận trên thế giới và Việt Nam, đồng thời xác lập cơ sở thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Quốc hội:

  • Trình bày chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo Hiến pháp 2013 (Điều 69, Điều 70) và Luật Tổ chức Quốc hội 2014 (Điều 1, 3, 4, 5, 6, 7, 8).
  • Phân tích bản chất của hoạt động chất vấn theo quan điểm của Nguyễn Sỹ Dũng: Chất vấn là một thủ tục giám sát tối cao có tính pháp lý nhằm "làm rõ trách nhiệm" của người đứng đầu các cơ quan nhà nước, khác biệt với "hỏi - đáp" (thu nhận thông tin) và "thẩm vấn" (làm rõ sự thật).
  • Mô tả quy trình tổ chức phiên chất vấn tại Quốc hội Việt Nam: chất vấn theo nhóm vấn đề, vai trò điều phối của người điều hành (Chủ tọa), hình thức chất vấn trực tiếp kết hợp giơ biển/bấm nút tranh luận, và kết thúc bằng nghị quyết được Quốc hội thông qua.

Chương 2: Cấu trúc nội tại của lập luận trong các lượt lời trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương này tập trung phân tích cấu trúc vi mô của lập luận trong các phát ngôn đơn lẻ của đại biểu và người trả lời chất vấn:

  • Các thành phần cấu trúc: Khảo sát các dạng luận cứ (tường minh, hàm ẩn), các loại lí lẽ (dựa trên chứng cứ logic, quy phạm pháp luật, giá trị chung hoặc lẽ thường) và kết luận.
  • Các phương tiện chỉ dẫn lập luận:
    • Thống kê và phân loại chức năng của các kết tử dẫn nhập luận cứ (KTDNLC) và dẫn nhập kết luận (KTDNKL), kết tử hai vị trí (KT2VT) và ba vị trí (KT3VT).
    • Phân tích tác tử lập luận (TTLL) và tác tử tình thái (TTTT) có tác dụng gia tăng hoặc giảm nhẹ sức mạnh hành vi ở lời của người chất vấn và người trả lời.
  • Các mô hình lập luận trong lượt lời:
    • Dựa vào tương quan vị trí: Mô hình kết luận đứng đầu, kết luận đứng giữa, kết luận đứng cuối lượt lời.
    • Dựa vào mức độ phức tạp: Lập luận đơn (một luận cứ - một kết luận), lập luận phức (nhiều luận cứ liên kết hội, tuyển hoặc bổ trợ), tiểu lập luận (TLL) và đại lập luận (ĐLL).

Chương 3: Lập luận trong hội thoại tranh luận trên diễn đàn Quốc hội (qua phiên chất vấn)

Chương 3 nâng cấp phân tích từ cấu trúc tĩnh của lượt lời sang tương tác động của hội thoại tranh luận:

  • Đặc điểm lập luận qua các hành vi ngôn ngữ:
    • Hành vi hỏi/chất vấn: Phân loại mục đích hỏi (thu thập thông tin, yêu cầu giải trình, quy trách nhiệm, chất vấn giải pháp) và phương pháp hỏi.
    • Hành vi trả lời chất vấn: Đánh giá câu trả lời dựa trên 3 tiêu chí hội thoại của Grice và logic phi hình thức: tính quan yếu (trả lời trúng vấn đề), tính rõ ràng (minh bạch, không mơ hồ) và tính đầy đủ (đáp ứng trọn vẹn nội dung chất vấn).
    • Hành vi điều hành của Chủ tọa: Vai trò định hướng tranh luận, giữ đúng trọng tâm nhóm vấn đề, cân đối thời gian và giải quyết xung đột ý kiến.
  • Mô hình và chất lượng tranh luận:
    • Mô hình hóa các giai đoạn tranh luận (đối đầu, mở đầu, lập luận - đối chất, kết thúc) và các bước chuyển hợp lý/không hợp lý giữa các kiểu hội thoại (ví dụ: chuyển từ hội thoại cân nhắc sang tranh cãi cá nhân).
    • Nhận diện và phân tích các trường hợp lập luận chưa thuyết phục / lập luận sai (LLY/S) xuất hiện trong các phiên chất vấn: lỗi né tránh câu hỏi, lập luận lạc đề, khái quát hóa vội vã, ngụy biện viện dẫn hoàn cảnh khách quan hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
  • Nhận xét tổng quát: Đánh giá thực trạng văn hóa tranh biện nghị trường, hiệu quả sử dụng các phương tiện ngôn ngữ và đề xuất các lược đồ phản biện chuẩn mực.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã tích hợp các lý thuyết lập luận hiện đại (mô hình Toulmin, dụng học biện chứng của van Eemeren, logic phi hình thức của Walton, thuyết lập luận triệt để và đa thanh của Ducrot) để xây dựng khung phân tích toàn diện cho diễn ngôn tiếng Việt.
  2. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về lập luận sai (fallacies) và các quy tắc tranh luận trong môi trường thể chế chính trị đặc thù, bổ sung khoảng trống nghiên cứu về hội thoại tranh biện tại Việt Nam.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh thực trạng về việc sử dụng lập luận của đại biểu Quốc hội và các thành viên Chính phủ trong các phiên chất vấn từ khóa XI đến khóa XIV.
  2. Xây dựng các khuôn mẫu lập luận, sơ đồ lập luận sai thường gặp và lược đồ phản biện chuẩn mực, có giá trị ứng dụng trực tiếp nhằm nâng cao năng lực chất vấn, trả lời chất vấn và kỹ năng điều hành phiên họp tại Quốc hội.
  3. Cung cấp nguồn tư liệu ngữ liệu thực tế và tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy các môn: Ngữ dụng học, Logic học, Phân tích diễn ngôn và Kỹ năng tư duy phản biện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Ngữ liệu nghiên cứu của luận án chỉ giới hạn trong phạm vi các phiên chất vấn trực tiếp (và một số phiên thảo luận kinh tế - xã hội có lồng ghép chất vấn) tại Hội trường Quốc hội, chưa bao quát các dạng thức diễn ngôn nghị trường khác như thảo luận tổ, thảo luận dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hay tiếp xúc cử tri.
  • Luận án xem xét hiện tượng lập luận sai thuần túy trên bình diện cấu trúc ngôn ngữ và ngữ dụng học, không đi sâu vào khía cạnh tâm lý học để phân định ranh giới giữa vô tình mắc lỗi (ngộ biện) và cố ý đánh lạc hướng (ngụy biện).

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thể loại diễn ngôn chính trị - pháp lý khác trong hoạt động của bộ máy nhà nước.
  • Kết hợp phương pháp phân tích diễn ngôn định tính với các công cụ trí tuệ nhân tạo và xử lý ngôn ngữ tự nhiên để tự động hóa việc nhận diện mô hình lập luận (Argumentation Mining) trên toàn bộ kho ngữ liệu văn bản Quốc hội.

Giá trị tham khảo

  • Đối với Đại biểu Quốc hội và cán bộ làm công tác chính sách: Cung cấp phương pháp xây dựng lập luận sắc bén, kỹ năng chất vấn làm rõ trách nhiệm, kỹ năng trả lời đúng trọng tâm và phương pháp điều hành tranh luận dân chủ, hiệu quả.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh ngành Ngôn ngữ học và Logic học: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học và logic phi hình thức; là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các học phần Phân tích diễn ngôn, Ngữ dụng học và Logic học ứng dụng.
  • Các phần có giá trị tham khảo nổi bật: Khung 10 quy tắc tranh luận và bảng phân loại lập luận sai (Chương 1); Hệ thống mô hình lập luận theo Toulmin và phân loại kết tử/tác tử (Chương 2); Lược đồ phân tích hội thoại tranh biện và nghệ thuật hỏi - đáp nghị trường (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận khái niệm lập luận dưới những góc độ nào?

Luận án tiếp cận lập luận theo hai bình diện: (1) Ở cấp độ phát ngôn/lượt lời, lập luận là sản phẩm của quá trình suy luận đi từ các tiền đề (luận cứ, lí lẽ) đến kết luận; (2) Ở cấp độ hội thoại, lập luận là một hành vi ngôn ngữ phức hợp vận động trong sự tương tác tranh luận nhằm giải quyết bất đồng hoặc làm rõ trách nhiệm.

2. Mô hình lập luận 6 thành tố của S. Toulmin được luận án vận dụng như thế nào?

Mô hình Toulmin được dùng để sơ đồ hóa và tường minh hóa cấu trúc lập luận trong phiên chất vấn, bao gồm: Dữ liệu (Data - D), Biện minh/Lí lẽ (Warrant - W), Hỗ trợ biện minh (Backing - B), Tuyên bố/Kết luận (Claim - C), Hạn định (Qualifier - Q) và Phản bác (Rebuttal - R).

3. Ngữ liệu nghiên cứu của luận án được chọn lọc từ nguồn nào và dung lượng ra sao?

Ngữ liệu được thu thập từ Cổng thông tin điện tử Quốc hội (http://quochoi.vn) thuộc các kỳ họp từ khóa XI đến khóa XIV. Luận án chọn khảo sát mẫu chuyên sâu 206 lập luận (83 đại lập luận) tại hai phiên chất vấn liên tiếp thuộc khóa XIII, đồng thời đối chiếu, kiểm chứng mở rộng trên các phiên chất vấn khác xuyên suốt 4 khóa Quốc hội.

4. Luận án đề xuất những tiêu chí nào để đánh giá một lập luận tốt?

Một lập luận tốt trong ngôn ngữ tự nhiên cần thỏa mãn 7 tiêu chí: Tính hiệu lực (validity), Tính vững chắc (soundness), Tính rõ ràng (clarity), Tính đầy đủ (sufficiency), Tính quan yếu (relevance), Tính hợp lí (reasonability) và Tính thuyết phục (cogency).

5. Lập luận sai (fallacies) trong luận án được chia thành những nhóm chính nào?

Lập luận sai được chia thành 3 nhóm lớn: (1) Lập luận sai do không quan yếu / vi phạm tính quan yếu (tấn công cá nhân, đánh lạc hướng, viện dẫn quyền uy, đám đông); (2) Lập luận sai do quá trình suy luận (khái quát hóa vội vã, người rơm, dốc trượt, ngộ nhận nhân quả); (3) Lập luận sai do sử dụng ngôn ngữ mơ hồ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Diệu Thương là công trình nghiên cứu hệ thống về lập luận và tranh luận trong diễn ngôn nghị trường tại Việt Nam. Bằng việc tích hợp các lý thuyết hiện đại như mô hình Toulmin, dụng học biện chứng của van Eemeren và lý thuyết lập luận triệt để của Ducrot, tác giả đã làm rõ cấu trúc nội tại của các lượt lời chất vấn cũng như quy luật tương tác động trong hội thoại tranh luận tại Quốc hội. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp về mặt phương pháp luận cho ngành Ngôn ngữ học Việt Nam mà còn cung cấp hệ thống giải pháp, mô hình thực tiễn giúp nâng cao chất lượng hoạt động giám sát tối cao và tranh luận tại Nghị trường Quốc hội.