phần mở đầu, mục lục, phụ lục, danh mục các Bảng, hình vẽ, các chữ viết tắt và danh mục tài liệu tham khảo, bố cục đề tài gồm ba chương: © Chuong 1: Co sé ly luận về quản trị quan hệ khách hàng (CRM). s_ Chương 2: Thực trạng công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty Xăng dầu khu vực V. s_ Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị quan hệ khách hàng tại Công ty Xăng dầu khu vực V. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG (CRM ) 1.
TONG QUAN VE QUAN TRI QUAN HE KHACH HANG 1. Marketing, quản trị quan hệ khách hàng và giá trị dành cho khách hàng 1. Một số khái niệm về marketing Marketing Ngày nay hầu hết các trường phái nghiên cứu về marketing đều thống nhất ở quan điểm marketing là thỏa mãn nhu cầu khách hàng. Trên cơ sở hiểu rõ nhu cầu mong muốn của của khách hàng, mà phát triển những sản phẩm.
mang lại cho khách hàng những giá trị vượt trội với mức giá hợp lý, phân phối và cổ động một cách hiệu quả, thì việc bán sản phẩm không có gì khó. Định nghĩa marketing là một tiến trình xã hội và quản lý theo đó các cá nhân và các nhóm có được cái mà họ mong muốn thông qua việc tạo ra, trao. đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác. [9, tr 14] Marketing quan hệ Marketing quan hệ có mục tiêu xây dựng mối quan hệ thỏa mãn lẫn nhau lâu đài với các đối tác quan trọng như khách hàng, nhà cung cấp, các nhà phân phối nhằm nuôi dưỡng và duy trì quan hệ làm ăn lâu dài với họ.
Các nhà làm marketing hoàn thành nhiệm vụ này bằng cách cam kết và cung ứng. những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao ở mức giá phải chăng qua thời gian. Marketing quan hệ xây dựng các mối quan hệ xã hội, kinh tế và kỹ thuật chặt chẽ giữa các đối tác. Marketing giúp cắt giảm chỉ phí và thời gian giao.
Trong hầu hết các kinh doanh thành công, các giao dich dich chuyển từ thương lượng mỗi giao dịch sang cách làm theo thông lệ. Kết quả cuối cùng của marketing quan hệ là xây dựng tài sản độc đáo của công ty được gọi tên là mạng lưới marketing. Mạng lưới marketing bao gồm công ty và các bên hữu quan (khách hàng, đi gũ nhân viên, các nhà cung ứng, các nhà phân phối, các nhà bán lẻ, các hãng quảng cáo.) mà công ty xây dựng mối quan hệ cùng có lợi với họ. Cạnh tranh ngày càng không phải giữa các công ty mà giữa các mạng lưới marketing, và phần thưởng sẽ thuộc về công ty nào xây.
dựng được mạng lưới tốt hơn. Nguyên tắc vận hành rất đơn giản: xây dựng mạng lưới hiệu quả các mối quan hệ với các bên hữu quan quan trọng và lợi ích sẽ xuất hiện.[9, tr 17] Lý thuyết phụ thuộc Khi nghiên cứu quan hệ khách hàng với mục đích nhằm tăng giá trị cho công ty, chúng ta phải hiểu nghĩa từ customer theo phạm vi rộng nhất bao gồm: khách hàng, nhà phân phối, nhà cung ứng, các đối tác, nhân viên, chính phủ.hay đó chính là các đối tượng thuộc giới hứu quan của công ty. Các bén hữu quan là các cá nhân hay nhóm có tác động, và chịu tác động của các kết cục chiến lược, họ có quyên đòi hỏi đối với thành tích của doanh nghiệp. [§, tr52] Khách hàng Chính phủ Giới kinh Nguồn lực doanh khác Nhân viên Ì Công chúng Các cô đông Hình I.
Mô hình lý thuyết phụ thuộc Các bên hữu quan bên trong của công ty bao gồm : các thành viên quản trị các cổ đông, nhân viên. Các bên hữu quan bên ngoài tổ chức bao gồm : khách hàng nhà cung ứng, chính phủ, các công động địa phương. Các bên hữu quan và công ty có mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau. Họ là nguồn lực tạo nên giá trị và lợi thế cạnh tranh của công ty, đồng thời cũng có quyền đòi hỏi nhất định ở công ty.
© C6 đông/chủ sở hữu (đối tác): Tạo nguồn vốn kinh doanh cho công ty, họ quan tâm đến lợi nhuận, vòng quay của vốn, khả năng tái đầu tư, lợi tức trên mỗi cỗ phiếu. ©_ Khách hàng, nhà phân phi: Khách hàng tạo doanh thu cho công ty, họ quan tâm tới chất lượng, độ an toàn, độ tin cậy trong quảng cáo, các chính sách chiết khấu hỗ trợ mua hàng, «Chính phủ: Tạo môi trường pháp lí kinh doanh và các công trình công cộng trái lại họ đỏi hỏi ở công ty khả năng đóng thuế và các nghĩa vụ, các đóng góp cho xã hội. Nhân viên: Cung cấp cho công ty sức lao động và các kĩ năng, họ kì vọng ở công ty một mức thu nhập hợp lí, an toàn lao động, chính sách của công ty. ©_ Các giới kinh doanh khác (nhà cung ứng, đối tác): Khả năng thanh toán của công ty, qui mô đặt hàng, triển vọng kinh doanh.
© Giới công chúng: Cung cấp cho công ty một môi trường sinh hoạt an toàn trật tự, họ kì vọng ở công ty sự an toàn đến môi trường sống của dân cư, nghĩa vụ xã hội và phúc lợi Lợi ích của các đối tượng phụ thuộc vào nhau, có khi mâu thuẫn nhau. Nhiệm vụ của công ty là cần tạo lợi thế cạnh tranh, khai thác tối ưu các nguồn lực bằng cách cân bằng giá trị giữa các bên hữu quan. Ta có thể thấy trung tâm của các nhóm đối tượng này là khách hàng. Khách hàng là giới hữu quan quan trọng nhất, vì không có khách hàng thì không có doanh nghiệp.
Các chiến lược kinh doanh của công ty đều xuất phát từ nhu cầu của khách hàng. Nhưng công ty không phải lúc nào cũng đáp ứng khách hàng bằng mọi giá, vì lợi ích của khách hàng đôi khi mâu thuẫn với lợi ích của các bên hữu quan khác. Mục tiêu của công ty là phải tranh thủ sự ủng. hộ của tất cả các giới hữu quan thông qua đáp ứng lợi ích của họ.
Khái niệm quản trị quan hệ khách hàng CRM là viết tắt của Customer Relationship Management, thuật ngữ CRM xuất hiện từ đầu những năm 1990 trong giới học thuật và các hãng tư vấn của Mỹ. Một cách tổng quát, CRM là hệ thống nhằm phát hiện các đối tượng tiềm năng, biến họ thành khách hàng (KH), và sau đó giữ các KH nay lại với công ty. Nói như vậy CRM sẽ là một tổng hợp của nhiều kỹ thuật từ marketing đến quản lý thông tin hai chiều với KH, cũng như rất nhiều công cụ phân tích về hành vỉ của từng phân khúc thị trường đến hành vi mua sắm của. Quản trị quan hệ khách hàng là một hoạt động kinh tế khó định nghĩa bởi được ứng dụng vào nhiều cấp độ khác nhau của khách hàng như khách hàng là nhà phân phối, nhà bán buôn, đối tác, người tiêu dùng.
Kết cấu của hệ thống. CRM cũng sẽ khác nhau tùy theo qui mô doanh nghiệp, dù các doanh nghiệp có mục tiêu như nhau. Quản trị doanh nghiệp theo hướng thoả mãn nhu cầu khách hàng sẽ dẫn đến doanh nghiệp phải thay đổi và phát triển tổ chức, sản xuất và cung ứng sản phẩm /dịch vụ theo những yêu cầu đa dạng của khách hàng, chứ không phải chỉ dựa trên nhu cầu và khả năng hiện có của doanh nghiệp. Vì thế, bản chất của CRM là quản trị theo hướng xây dựng và phát triển mi quan hệ lâu dai và chặt chẽ giữa khách hàng và doanh nghiệp.
'Các khái niệm cơ bản về CRM được xác định theo ba quan điểm: Quan điểm thứ nhất: Cho rằng CRM như một giải pháp công nghệ trợ giúp cho quản lý những vấn đề liên quan đến khách hàng. CRM là tập hợp các mô hình, phương pháp và công nghệ kinh doanh. đại có quan hệ qua lại lẫn nhau được xây dựng nhằm tạo dựng, duy trì và phát triển mối quan hệ tốt đẹp với những khách hàng tiềm năng nhất. thứ hai: Cho rằng CRM như là năng lực của doanh nghiệp và thực hiện trao đổi mua bán với khách hàng thông qua xây dựng và thực hiện qui trình bán hàng.
CRM là quá trình mà doanh nghiệp sử dựng những kiến thức sâu rộng về khách hàng được tích luỹ theo thời gian một cách hiệu quả để xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh của mình nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng khách hàng mục tiêu. Quan điểm thứ ba: Coi CRM như chiến lược kinh doanh là quan đi toàn diện nhất. Quản trị quan hệ khách hàng là tập hợp các hoạt động mang tính chiến lược nhằm lựa chọn, thiết lập, duy trì, phát triển các mỗi quan hệ tốt đẹp và lâu dài giữa doanh nghiệp và khách hàng, trên cơ sở làm thích ứng các quá trình tạo ra lợi ích của khách hàng và doanh nghiệp. Trong luận văn này, tác giả thừa nhận đây là khái niện về CRM.
Giá trị dành cho khách hàng © Gié trị khách hàng: Là giá trị kinh tế của khách hàng (KH) đối với doanh nghiệp, thể hiện thông qua lợi nhuận ròng. © Giá trị dành cho khách hàng: Là sự khác biệt giữa tông giá trị va tong chỉ phí của khách hàng. Tổng giá trị cho khách hàng là toàn bộ lợi ích mà khách hàng mong đợi nhận được từ sản phẩm hay dịch vụ. Tổng chỉ phí của khách hàng là toàn bộ chỉ phí mà khách hàng bỏ ra để đánh giá mua và loại bỏ sản phẩm hay dịch vụ.
© Gia tj từ khách hàng: Là những giá trị mà tổ chức nhận lại từ khách hàng khi khách hàng được tô chức thỏa mãn nhu cầu của họ. Trước hết phải kể đến giá trị về mặt kinh tế cụ thể là khả năng sinh lợi của khách hàng. Nó phụ thuộc rất nhiều vào sự gắn bó của khách hàng, cảng gắn bó khách hàng cảng đem lại cho tổ chức nhiều lợi nhuận. Ngoài giá trị về mặt kinh tế mà khách hàng còn mang lại cho công ty nhiều lợi nhuận khác như: họ là những phương tiện truyền thông tốt nhất cho công ty, những nhận xét của khách hàng giúp công ty nâng cao chất lượng, cải tiến kỹ thuật.
Vì thế, để hấp dẫn, duy trì, nâng cao lòng trung thành của khách hàng, doanh nghiệp phải thực hiện đồng bộ rất nhiều hoạt động, cụ thể là trong mối quan hệ với khách hàng. Giá trị sản phẩm Giá trị về dịch vụ “Tổng giá trị Giá trị hình ảnh khách hàng, Gía trị nhân sự Giá trị dành cho. Giá mua | khách bàng Chỉ phí thời gian Tổng chi phí Chỉ phí công sức khách hàng Chi phi tinh than Hình 1. Mô hình xác định giá trị dành cho khách hàng [13, tr 126] 10 1.