Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 53 dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn rộng lớn, chiếm hơn 65% diện tích tự nhiên của cả nước. Đây là những khu vực trung du và miền núi có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Mặc dù công tác thông tin tuyên truyền đã được triển khai qua nhiều thời kỳ, hoạt động truyền thông bằng tiếng dân tộc vẫn gặp không ít rào cản do địa hình chia cắt, sự khác biệt về phong tục tập quán và rào cản ngôn ngữ. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để đánh giá toàn diện tính đồng bộ của hệ thống chính sách ngôn ngữ và đo lường hiệu quả thực thi trong thực tiễn đời sống báo chí truyền thông.

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn thạc sĩ chuyên ngành Ngôn ngữ Việt Nam do học viên Khammonh Noyvongthong thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thu Quỳnh tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên là hệ thống hóa cơ sở pháp lý, phân tích thực trạng ban hành và triển khai chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong truyền thông tại Việt Nam từ năm 1945 đến năm 2018. Phạm vi nghiên cứu bao quát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật toàn quốc và đi sâu khảo sát thực tế tại xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên – địa bàn có 3.231 nhân khẩu với tỷ lệ đồng bào dân tộc Tày chiếm hơn 90%. Kết quả nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện chính sách văn hóa - thông tin, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ phủ sóng phát thanh truyền hình tiếng dân tộc lên trên 95%, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin theo Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và giữ gìn sự đa dạng văn hóa quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý thuyết chính sách ngôn ngữ của J. Fishman khởi xướng năm 1970 và mô hình chính sách ngôn ngữ của V. Ju Mikhalchenko với hai trạng thái chính sách hài hòa và không hài hòa. Mô hình hài hòa phản ánh sự tương thích tối ưu giữa quy định pháp luật với cảnh huống ngôn ngữ thực tế của cộng đồng bản địa. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng lý thuyết lựa chọn ngôn ngữ trong ngôn ngữ học xã hội của giáo sư Nguyễn Văn Khang năm 2012 để phân tích chức năng xã hội, vị thế của tiếng mẹ đẻ và mức độ tương tác với tiếng phổ thông trong không gian công cộng.

Khung lý thuyết của đề tài tập trung làm rõ 4 khái niệm then chốt:

  1. Chính sách ngôn ngữ: Hệ thống quan điểm chính trị, chuẩn tắc và biện pháp của nhà nước nhằm tác động lên sự hành chức và phát triển của các ngôn ngữ trong xã hội.
  2. Truyền thông đại chúng: Quá trình truyền tải thông điệp đồng loạt qua các kênh phát thanh, truyền hình, báo in và báo điện tử nhằm định hướng nhận thức xã hội.
  3. Truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số: Hoạt động truyền phát thông tin hướng tới nhóm công chúng chuyên biệt bằng chính tiếng mẹ đẻ của họ.
  4. Không gian công ngôn ngữ: Môi trường xã hội cho phép đồng bào thiểu số thực hiện quyền giao tiếp, bảo tồn tiếng nói và tiếp nhận tri thức hiện đại.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hơn 39 văn bản quy phạm pháp luật ban hành từ năm 1945 đến năm 2014, gồm các bản Hiến pháp, Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, Quyết định số 153-CP năm 1969, Quyết định số 53-CP năm 1980 cùng hệ thống báo cáo hoạt động của 41 đài phát thanh - truyền hình có chương trình tiếng dân tộc trên toàn quốc.

Về quy mô khảo sát thực địa, tác giả thực hiện chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên với cỡ mẫu 150 hộ gia đình đại diện cho 3.231 người dân tại xã Kim Phượng, huyện Định Hóa, kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ lãnh đạo, phóng viên và biên tập viên chuyên trách. Phương pháp nghiên cứu chủ đạo bao gồm phương pháp miêu tả định lượng kết hợp với phương pháp ngôn ngữ học điền dã và ngôn ngữ học xã hội. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này xuất phát từ yêu cầu kiểm chứng khách quan giữa các quy định trên văn bản với hành vi tiếp nhận thực tế của người dân vùng cao. Toàn bộ quy trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu được triển khai hoàn tất trong mốc thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 5/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát và xử lý dữ liệu của luận văn đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, hệ thống pháp lý về ngôn ngữ tại Việt Nam có tính nhất quán cao với 15 văn bản xác lập vị thế tiếng phổ thông và hơn 24 văn bản chuyên biệt bảo tồn tiếng dân tộc thiểu số, tiêu biểu như Điều 5 Hiến pháp 2013 và Nghị định 05/2011/NĐ-CP.

Thứ hai, mạng lưới truyền thông phát thanh - truyền hình phát triển vượt bậc với 41 đài cấp tỉnh tham gia sản xuất chương trình tiếng dân tộc; kênh truyền hình VTV5 và hệ phát thanh VOV4 phát sóng bằng hơn 20 thứ tiếng dân tộc thiểu số, phục vụ hàng triệu đồng bào vùng sâu, vùng xa.

Thứ ba, kết quả khảo sát thực tế tại xã Kim Phượng cho thấy tỷ lệ người dân sử dụng thành thạo tiếng Tày trong sinh hoạt hàng ngày đạt tới 92,4%. Tuy nhiên, mức độ tiếp cận các loại hình truyền thông có sự chênh lệch sâu sắc: tỷ lệ người dân thường xuyên xem truyền hình tiếng dân tộc đạt 84,2%, nghe đài phát thanh đạt 68,5%, trong khi đọc báo in chữ dân tộc chỉ chiếm 12,1%.

Thứ tư, rào cản lớn nhất hiện nay là tình trạng thiếu hụt từ ngữ biểu đạt các khái niệm kinh tế, khoa học và công nghệ hiện đại. Hơn 70% biên tập viên, phóng viên được khảo sát thừa nhận gặp khó khăn khi chuyển ngữ, dẫn đến việc phải chêm xen từ tiếng Việt phổ thông với tần suất 15 - 20% trong mỗi bản tin.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của sự chênh lệch trong việc tiếp nhận thông tin xuất phát từ đặc thù địa bàn miền núi chia cắt, việc phát hành báo in gặp nhiều trở ngại cơ học trong khi truyền hình và phát thanh sở hữu lợi thế truyền dẫn sóng trực tiếp không phụ thuộc vào trình độ đọc viết. Thực trạng này hoàn toàn tương đồng với kết quả nghiên cứu tại Na Uy, nơi đài NRK triển khai phát thanh tiếng Sami từ năm 1934 đạt hiệu quả tiếp cận cao hơn 60% so với xuất bản phẩm giấy. Tại Pháp, năm 1998 ghi nhận 265 giờ truyền hình phát sóng bằng 6 ngôn ngữ thiểu số, hay tại Lào với hệ thống 63 đài phát sóng hơn 700 giờ/ngày bằng tiếng Mông và Khơ mú đều chứng minh vai trò tối thượng của truyền thông nghe nhìn.

Dữ liệu của luận văn được tổ chức khoa học qua 7 bảng thống kê chi tiết. Trong thực tế phân tích, nguồn dữ liệu này có thể được mô hình hóa trực quan qua bảng tổng hợp văn bản pháp luật, biểu đồ cột so sánh tỷ lệ tiếp cận giữa 4 loại hình truyền thông (truyền hình 84,2% so với báo in 12,1%) và biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu vốn từ mượn trong các chương trình thời sự tiếng dân tộc. Việc trực quan hóa dữ liệu chỉ ra rằng chính sách truyền thông cần tập trung nguồn lực tài chính vào truyền thông đa phương tiện và kỹ thuật số thay vì phân bổ dàn trải cho báo in truyền thống.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao chất lượng và sức lan tỏa của hoạt động truyền thông bằng ngôn ngữ dân tộc thiểu số, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Chuẩn hóa từ ngữ và xây dựng ngân hàng thuật ngữ chuyên ngành: Viện Ngôn ngữ học phối hợp cùng Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) và Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) biên soạn bộ cẩm nang đối chiếu thuật ngữ khoa học - kỹ thuật song ngữ cho 10 ngôn ngữ dân tộc lớn, hoàn thành trong giai đoạn 2019 - 2022 nhằm giảm 50% lỗi sai lệch ngữ nghĩa trong biên dịch.
  2. Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật số và tăng cường thời lượng phát sóng: Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ đạo các đài phát thanh - truyền hình địa phương số hóa 100% quy trình sản xuất, mở rộng diện tích phủ sóng số mặt đất đạt mốc 98% vùng lõm thông tin trước năm 2025, tăng thời lượng phát sóng tiếng dân tộc thêm ít nhất 30 phút mỗi ngày.
  3. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực báo chí song ngữ: Ủy ban Dân tộc phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiệp vụ báo chí hiện đại định kỳ 6 tháng/lần cho 100% phóng viên người dân tộc thiểu số từ năm 2020, áp dụng chính sách phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp tối thiểu 30% lương cơ bản.
  4. Đa dạng hóa kênh truyền thông trên nền tảng mạng xã hội và ứng dụng di động: Các cơ quan báo chí chủ lực xây dựng hệ thống podcast, video ngắn và ứng dụng đọc báo bằng tiếng dân tộc có tích hợp phụ đề song ngữ, hướng đến mục tiêu thu hút 40% thanh thiếu niên dân tộc thiểu số tiếp cận thông tin chính thống hàng tuần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cán bộ hoạch định chính sách tại Ủy ban Dân tộc và Bộ Thông tin và Truyền thông: Cung cấp cơ sở lý luận và bằng chứng thực nghiệm để đánh giá tác động của các văn bản pháp luật, từ đó sửa đổi bổ sung các quy định về quyền ngôn ngữ và định mức kinh tế kỹ thuật trong sản xuất chương trình dân tộc.
  2. Ban lãnh đạo, phóng viên và biên tập viên tại các cơ quan truyền thông đa ngữ: Nguồn tài liệu chuyên khảo giúp các đài như VOV4, VTV5 và 41 đài phát thanh - truyền hình địa phương tối ưu hóa cấu trúc chương trình, lựa chọn phương ngữ chuẩn và cải thiện chất lượng biên dịch tin bài.
  3. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên ngành Ngôn ngữ học, Báo chí học, Văn hóa học: Tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ giảng dạy các chuyên đề về ngôn ngữ học xã hội, chính sách công và truyền thông phát triển với khung lý thuyết đa chiều và dữ liệu điền dã phong phú.
  4. Chính quyền cơ sở và cán bộ văn hóa - thông tin xã, phường vùng đồng bào thiểu số: Cung cấp các mô hình truyền thông cơ sở thực tế nhằm kết hợp hiệu quả giữa hệ thống loa truyền thanh cơ sở với hoạt động tuyên truyền miệng, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Mục đích cốt lõi của chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong truyền thông tại Việt Nam là gì? Chính sách hướng tới đảm bảo quyền bình đẳng ngôn ngữ theo Điều 5 Hiến pháp năm 2013 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Hoạt động này tạo điều kiện để đồng bào tiếp nhận tri thức khoa học, nâng cao dân trí, phát triển kinh tế bền vững và bảo tồn bản sắc văn hóa của 53 dân tộc thiểu số.

Vì sao tác giả lựa chọn xã Kim Phượng, huyện Định Hóa làm địa bàn khảo sát thực địa? Xã Kim Phượng có quy mô 3.231 nhân khẩu với hơn 90% là đồng bào dân tộc Tày, duy trì thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ thường xuyên. Đây là địa bàn miền núi đặc trưng tiếp nhận đầy đủ các luồng phát thanh, truyền hình trung ương và địa phương, phản ánh chuẩn xác thực trạng tiếp nhận truyền thông.

Loại hình truyền thông nào mang lại hiệu quả cao nhất cho vùng dân tộc thiểu số? Theo số liệu khảo sát thực tế, truyền hình và phát thanh đạt hiệu quả vượt trội với tỷ lệ tiếp cận lần lượt là 84,2% và 68,5%, vượt xa mức 12,1% của báo in. Kết quả này tương đồng với kinh nghiệm phát thanh tiếng Sami tại Na Uy và truyền thanh cộng đồng tại Úc do khắc phục được trở ngại về giao thông và rào cản chữ viết.

Khó khăn lớn nhất trong công tác sản xuất chương trình truyền thông tiếng dân tộc hiện nay là gì? Trở ngại lớn nhất là sự thiếu hụt hệ thống từ vựng khoa học - kỹ thuật tương đương trong ngôn ngữ thiểu số và đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp. Khảo sát chỉ ra hơn 70% phóng viên gặp lúng túng khi dịch thuật, dẫn đến việc chêm xen tiếng phổ thông chiếm 15 - 20% thời lượng phát sóng.

Kinh nghiệm quốc tế nào được luận văn vận dụng để hoàn thiện chính sách tại Việt Nam? Luận văn đúc kết bài học từ Anh (BBC tiếng Wales từ năm 1923), Pháp (265 giờ truyền hình thiểu số năm 1998) và Lào (63 đài phát thanh hơn 700 giờ/ngày). Điểm mấu chốt là phải mở rộng không gian công cho ngôn ngữ bản địa, gắn bảo tồn văn hóa với hạ tầng phát sóng số hiện đại.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung lý luận và hơn 39 văn bản quy phạm pháp luật về chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong truyền thông tại Việt Nam giai đoạn 1945 - 2018.
  • Khảo sát thực chứng tại vùng đồng bào dân tộc Tày với 3.231 dân khẳng định sự vượt trội của phương thức truyền thông nghe nhìn với tỷ lệ tiếp cận 84,2% so với 12,1% của báo in.
  • Luận văn đề xuất hệ thống 4 giải pháp đồng bộ gồm chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành, hiện đại hóa hạ tầng phát thanh số, đào tạo nhân lực song ngữ và số hóa kênh phân phối thông tin.
  • Kế hoạch hành động giai đoạn 2020 - 2025 đặt ra lộ trình hoàn thiện văn bản pháp lý, hướng tới mục tiêu phủ sóng thông tin đa ngữ đạt 98% địa bàn miền núi biên giới.
  • Công trình là lời kêu gọi hành động thiết thực gửi đến các nhà quản lý, cơ quan báo chí và giới nghiên cứu trong việc chung tay bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ và nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào các dân tộc thiểu số.