Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Theo Báo cáo kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019, Việt Nam có 14,1 triệu người dân tộc thiểu số (DTTS), chiếm 14,7% tổng dân số cả nước (trong đó nam giới chiếm 50,1% và nữ giới chiếm 49,9%). Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 2009–2019 của khối DTTS đạt 1,42%/năm, cao hơn mức 1,09% của dân tộc Kinh và 1,14% của toàn quốc. Địa bàn sinh sống của đồng bào DTTS chủ yếu tập trung tại khu vực nông thôn (chiếm 83,3% đến 86,2% tùy theo tiêu chí khảo sát), nơi điều kiện hạ tầng và tiếp cận dịch vụ công còn nhiều trở ngại. Về chất lượng nguồn nhân lực, chỉ khoảng 20,2% người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ học vấn từ trung học phổ thông (THPT) trở lên, tỷ lệ mù chữ ở mức 19,1%, và cứ 100 người trong độ tuổi lao động chỉ có khoảng 9 đến 10,3 người có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên. Cơ cấu lao động còn nặng tính nông nghiệp: tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tuy giảm từ 81,9% (năm 2015) xuống 73,3% (năm 2019) nhưng vẫn cao gấp đôi mức trung bình toàn quốc (35,3%), trong khi khu vực công nghiệp - xây dựng (14,8%) và dịch vụ (11,9%) chiếm tỷ lệ thấp. Nhóm nghề đơn giản chiếm tới 68,6% lực lượng lao động DTTS có việc làm. Hệ quả là thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ DTTS chỉ dao động trong khoảng 1,1 đến 1,2 triệu đồng (giai đoạn 2019) và tỷ lệ nghèo, cận nghèo cao gấp 3,5 lần mức bình quân cả nước.

Mặc dù các nghiên cứu về thu nhập hộ gia đình đã được thực hiện khá phong phú ở phạm vi quốc tế và trong nước, mảng nghiên cứu chuyên sâu lượng hóa các yếu tố tác động trực tiếp tới thu nhập của riêng đối tượng hộ gia đình DTTS tại Việt Nam vẫn còn khoảng trống.

Khóa luận xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Tập trung xem xét và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình.
    2. Mô tả và đánh giá thực trạng thu nhập của các hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Việt Nam dựa trên dữ liệu khảo sát.
    3. Xây dựng mô hình kinh tế lượng nhằm đánh giá mức độ tác động của từng nhóm yếu tố đến thu nhập của các hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
  • Câu hỏi nghiên cứu: Những yếu tố nào có ảnh hưởng tới thu nhập của các hộ gia đình dân tộc thiểu số tại Việt Nam?
  • Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các hộ gia đình dân tộc thiểu số tại Việt Nam; phạm vi thời gian và dữ liệu phân tích tập trung vào năm 2020 thông qua bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS 2020).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng các khái niệm kinh tế học và pháp lý nền tảng:

  • Khái niệm thu nhập: Dẫn theo Giáo trình Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, Đại học Kinh tế Quốc dân), xác định thu nhập là khoản tiền thu được từ việc sở hữu và cung ứng các nhân tố sản xuất (tiền lương, lãi suất, địa tô, lợi nhuận) qua các nguồn: thu nhập kiếm được, lãi cho vay/tiền gửi, cổ tức đầu tư, cho thuê tài sản, tăng vốn và tiền bản quyền.
  • Khái niệm hộ gia đình: Dẫn theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005.
  • Thu nhập hộ gia đình theo chuẩn VHLSS 2020 của Tổng cục Thống kê: $$\text{Thu nhập hộ gia đình} = \text{Tổng thu} - \text{Chi phí sản xuất kinh doanh}$$ Trong đó, tổng thu bao gồm tiền lương/tiền công, thu từ trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, cho thuê tài sản, trợ cấp y tế, giáo dục và các khoản thu chuyển nhượng khác.
  • Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng: $$\text{Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng} = \frac{\text{Thu nhập hộ gia đình}}{\text{Số nhân khẩu của hộ} \times 12}$$
  • Chuẩn nghèo: Xác định theo chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm (rổ hàng hóa 2.100 Kcal/người/ngày) kết hợp chi tối thiểu cho hàng phi lương thực.

Về khung phân tích, tác giả kế thừa mô hình ba nhóm yếu tố của Benin và Randriamamonjy (2008) cùng Trần Quang Tuyến (2015), bao gồm: (i) Đặc điểm của chủ hộ, (ii) Đặc điểm của hộ gia đình, và (iii) Đặc điểm của cộng đồng. Trên cơ sở đó, tác giả thiết lập hệ thống 14 giả thuyết nghiên cứu:

Ký hiệu Nội dung giả thuyết nghiên cứu Chiều tác động kỳ vọng
H1 Chủ hộ là nam sẽ có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng cao hơn chủ hộ là nữ Dương (+)
H2 Tuổi chủ hộ càng cao thì thu nhập bình quân đầu người hàng tháng càng giảm Âm (-)
H3 Bằng cấp của thành viên trong hộ càng cao thì thu nhập bình quân đầu người càng cao Dương (+)
H4 Hộ gia đình làm công nhận lương có thu nhập bình quân cao hơn hộ tự làm nông - lâm - thủy sản Dương (+)
H5 Hộ gia đình tự làm phi nông - lâm - thủy sản có thu nhập bình quân cao hơn hộ tự làm nông - lâm - thủy sản Dương (+)
H6 Tuổi trung bình của các thành viên trong hộ càng cao thì thu nhập bình quân càng giảm Âm (-)
H7 Số người trong hộ gia đình càng tăng thì thu nhập bình quân đầu người càng giảm Âm (-)
H8 Tỷ lệ người sống phụ thuộc trong hộ càng cao thì thu nhập bình quân đầu người càng giảm Âm (-)
H9 Diện tích đất hộ sở hữu càng tăng thì thu nhập bình quân đầu người càng tăng Dương (+)
H10 Khả năng tiếp cận tín dụng của hộ gia đình tăng thì thu nhập bình quân đầu người tăng Dương (+)
H11 Khả năng tiếp cận chính sách (nhận trợ cấp) tăng thì thu nhập bình quân đầu người tăng Dương (+)
H12 Nhóm DTTS đông người sẽ có thu nhập bình quân cao hơn nhóm DTTS ít người Dương (+)
H13 Hộ gia đình sống ở thành thị sẽ có thu nhập bình quân cao hơn hộ gia đình sống ở nông thôn Dương (+)
H14 Hộ gia đình có sử dụng mạng lưới điện quốc gia sẽ có thu nhập cao hơn hộ không sử dụng điện Dương (+)

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm bao gồm:

  • Thu thập và xử lý dữ liệu: Sử dụng số liệu thứ cấp từ cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2020 (VHLSS 2020) do Tổng cục Thống kê thực hiện trên 63 tỉnh/thành phố qua 4 kỳ điều tra. Tổng mẫu khảo sát gốc là 46.980 hộ, trong đó có 8.094 hộ DTTS. Sau khi làm sạch và loại bỏ các quan sát khuyết thiếu, mẫu đưa vào ước lượng hồi quy chính thức là 6.464 hộ DTTS.
  • Phương pháp phân tích: Thống kê mô tả (trung bình cộng, độ lệch chuẩn, bảng chéo); phương pháp hồi quy OLS (Ordinary Least Squares). Tác giả thực hiện kiểm định đa cộng tuyến (hệ số VIF) và khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi bằng phép biến đổi logarit tự nhiên cho biến thu nhập và diện tích đất.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình

Chương 1 hệ thống hóa các lý thuyết về phát triển nguồn nhân lực, lý thuyết tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tác giả tổng thuật các công trình nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu trong nước và quốc tế (Hassan & Babu, 1991; Simler và cộng sự, 2004; Otsuka & Yamano, 2006; Khandker và cộng sự, 2009; Nguyễn Quốc Nghi, 2010; Trần Quang Tuyến, 2015; Vũ Thị Thương & Nguyễn Thị Phương Thảo, 2018). Từ đó, chương phân định 3 nhóm nhân tố tác động lên thu nhập gồm: đặc điểm chủ hộ (tuổi, giới tính), đặc điểm hộ gia đình (học vấn, việc làm, quy mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, diện tích đất canh tác, tiếp cận vốn tín dụng và trợ cấp chính sách) và đặc điểm cộng đồng (tiếp cận điện lưới, khu vực địa lý thành thị/nông thôn, quy mô dân tộc). Khung lý thuyết này là tiền đề thiết lập 14 giả thuyết định lượng cho bài nghiên cứu.

Chương 2: Thực trạng thu nhập của hộ gia đình dân tộc thiểu số ở Việt Nam từ bộ dữ liệu VHLSS năm 2020

Chương 2 phân tích thực trạng nhân khẩu học, việc làm và mức thu nhập của đồng bào DTTS tại Việt Nam:

  • Quy mô và phân bố dân cư: Dân số 53 DTTS đạt 14,1 triệu người (chiếm 14,68% tổng dân số cả nước). Vùng Trung du và miền núi phía Bắc tập trung đông nhất với 7.246 nghìn người, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 2.784 nghìn người, Tây Nguyên chiếm 15,6%, trong khi Đồng bằng sông Hồng có 468.313 người. Quy mô hộ DTTS đạt bình quân 4,1 người/hộ (giảm từ mức 4,4 người/hộ năm 2015), cao nhất ở dân tộc Mông (5,3 người/hộ), Khơ Mú (4,8 người/hộ) và Mảng (4,8 người/hộ). Tháp dân số DTTS có đáy rộng (mức sinh cao) và đỉnh hẹp (mức độ già hóa thấp hơn mức chung cả nước).
  • Chất lượng lao động và giáo dục: Tỷ lệ người DTTS từ 15 tuổi trở lên có trình độ dưới THPT chiếm 79,8% (khu vực nông thôn là 83%, thành thị là 61,3%). Lực lượng lao động DTTS có việc làm là 7,9 triệu người (đạt 82,1%), trong đó nam giới đạt 86%, nữ giới đạt 78,3%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản thu hút 73,3% lao động DTTS; tỷ lệ làm nghề đơn giản chiếm 68,6% và làm lãnh đạo chỉ chiếm 0,5%.
  • So sánh mức thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng năm 2020 của người DTTS thấp hơn 2 lần so với người dân tộc Kinh (5.533,44 nghìn đồng) và mức chung cả nước (5.016,65 nghìn đồng). Nhóm hộ không nghèo của DTTS đạt 2.873,98 nghìn đồng/người/tháng. Tỷ lệ nghèo và cận nghèo của DTTS tập trung cao nhất ở Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (48,2%), khu vực nông thôn (39,4%), trong khi Đông Nam Bộ thấp nhất (4,6%).
Nhóm dân tộc Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng (nghìn đồng)
Dân tộc Hoa 5.859,75
Dân tộc Khơ me 3.818,71
Dân tộc Sán dìu 3.705,03
Dân tộc Tày 3.669,67
Dân tộc Chơ - ro 3.412,18
Dân tộc La chí 1.082,57
Dân tộc Khơ mú 952,45
Dân tộc Cơ tu 928,71
Dân tộc Bru - Vân kiều 900,24
Dân tộc Bố Y 240,72
  • Cơ cấu thu nhập: Phân tích theo nguồn thu cho thấy tiền lương chiếm tỷ trọng lớn nhất với 49,33%, tiếp đến là tự làm nông - lâm - thủy sản (28,94%), tự làm phi nông - lâm - thủy sản (18,02%) và nguồn khác (3,72%). Xét theo đặc điểm hộ, hộ có thành viên tự làm phi nông - lâm - thủy sản đạt thu nhập bình quân cao vượt trội (8.637,04 nghìn đồng), hộ có thành viên trình độ sau trung học đạt 4.284,79 nghìn đồng, hộ sống ở thành thị đạt 3.516,96 nghìn đồng (so với 2.272,98 nghìn đồng ở nông thôn), và hộ có tiếp cận điện lưới đạt 2.490,79 nghìn đồng (gấp đôi hộ không có điện: 1.274,92 nghìn đồng). Về tín dụng, 64,3% hộ vay vốn ở mức 21–50 triệu đồng, 28,4% vay từ 1–20 triệu đồng, và chỉ 7,3% vay trên 51 triệu đồng.

Chương 3: Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng tới thu nhập hộ gia đình dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2020

Chương 3 trình bày kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến OLS với cỡ mẫu 6.464 hộ DTTS trích xuất từ VHLSS 2020.

Mô hình nghiên cứu dạng bán logarit được thiết lập: $$\begin{aligned} \text{logthunhapbq} = \beta_0 &+ \beta_1 \text{tsnguoi} + \beta_2 \text{tuoich} + \beta_3 \text{tuoichbp} + \beta_4 \text{tlspt} + \beta_5 \text{logdtdat} + \beta_6 \text{gtchuho} \ &+ \beta_7 \text{tltieuhoc} + \beta_8 \text{tltrunghoc} + \beta_9 \text{tlsautrunghoc} + \beta_{10} \text{tldaotaonghe} + \beta_{11} \text{tindung} \ &+ \beta_{12} \text{chinhsach} + \beta_{13} \text{tltnlamcong} + \beta_{14} \text{tltnpnlts} + \beta_{15} \text{sddien} + \beta_{16} \text{khuvuc} \ &+ \beta_{17} \text{qmdantoc} + \beta_{18} \text{tuoitv} + \varepsilon \end{aligned}$$

Hệ số của các biến giả được chuyển đổi giải thích theo công thức: $$\Delta y (%) = (e^{\beta_i} - 1) \times 100%$$

Mô hình đạt hệ số xác định $R^2 = 31%$ ($0,31$), hoàn toàn phù hợp với các nghiên cứu kinh tế lượng sử dụng dữ liệu vi mô chéo (cross-sectional data) cấp hộ gia đình. Tác giả kiểm định dạng hàm phi tuyến của biến tuổi chủ hộ thông qua cặp biến tuoich và tuoichbp nhằm xác định ngưỡng tuổi đạt mức thu nhập cực đại theo công thức: $$\text{Tuổi}_{\text{cực đại}} = -\frac{\beta_2}{2\beta_3}$$

Chương 4: Kết luận

Chương 4 tổng hợp các phát hiện chính rút ra từ mô hình thực nghiệm, đối chiếu với các nghiên cứu trước đây và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao thu nhập cho đồng bào DTTS, đồng thời chỉ ra các hạn chế kỹ thuật của đề tài.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính rút ra từ số liệu nghiên cứu

  • Trình độ học vấn và chuyên môn: Tỷ lệ thành viên trong hộ có bằng cấp sau trung học (cao đẳng, đại học) và bằng đào tạo nghề có tác động dương mạnh nhất và có ý nghĩa thống kê cao đến thu nhập bình quân đầu người của hộ DTTS. Hộ có trình độ sau trung học đạt mức thu nhập 4.284,79 nghìn đồng/người/tháng, cao gần gấp đôi nhóm chỉ có bằng tiểu học (2.258,17 nghìn đồng).
  • Cơ cấu việc làm: Thu nhập làm công nhận lương và tự làm phi nông - lâm - thủy sản tạo ra sự bứt phá thu nhập rõ rệt so với tự làm nông nghiệp thuần túy. Hộ tham gia hoạt động phi nông nghiệp đạt mức thu nhập bình quân 8.637,04 nghìn đồng/người/tháng.
  • Hạ tầng và vị trí địa lý: Tiếp cận mạng lưới điện quốc gia (chiếm 97,2% số hộ DTTS) giúp thu nhập bình quân đạt 2.490,79 nghìn đồng, cao gần gấp đôi nhóm chưa có điện (1.274,92 nghìn đồng). Hộ sinh sống tại khu vực thành thị có thu nhập bình quân cao gấp 1,5 lần hộ ở khu vực nông thôn (3.516,96 nghìn đồng so với 2.272,98 nghìn đồng).
  • Quy mô hộ và tỷ lệ phụ thuộc: Số lượng nhân khẩu trong hộ và tỷ lệ người sống phụ thuộc (ngoài độ tuổi lao động: nam dưới 15 và trên 60 tuổi; nữ dưới 15 và trên 55 tuổi) tác động tiêu cực đến thu nhập bình quân đầu người; hộ quy mô 1–5 người đạt mức 2.630,86 nghìn đồng, giảm xuống chỉ còn 1.345,29 nghìn đồng ở các hộ trên 10 người.
  • Tiếp cận tín dụng và chính sách: Khoảng 64,3% hộ DTTS vay vốn ở mức 21–50 triệu đồng và chưa tiếp cận tối đa hạn mức 100 triệu đồng của Ngân hàng Chính sách Xã hội do quy mô sản xuất nhỏ lẻ. Các hộ nhận trợ cấp chính sách (chiếm khoảng 18% đến 36,9% số hộ) chủ yếu là các hộ nghèo kinh niên, do đó có thu nhập bình quân thấp hơn nhóm không nhận trợ cấp.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đẩy mạnh công tác giáo dục phổ cập, mở rộng mạng lưới đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế nhằm nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật (hiện chỉ đạt 10,3%).
  • Hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu việc làm từ nông nghiệp truyền thống sang làm công nhận lương trong các khu công nghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ phi nông nghiệp.
  • Hoàn thiện mạng lưới điện quốc gia và hạ tầng giao thông kết nối cho 2,5% hộ DTTS vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực Trung du và miền núi phía Bắc.
  • Nâng cao hiệu quả nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội, hướng dẫn kỹ thuật canh tác và khuyến khích hộ mở rộng quy mô vốn vay vượt mức 50 triệu đồng phục vụ sản xuất hàng hóa.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã bổ sung bằng chứng thực nghiệm chuyên biệt cho đối tượng hộ DTTS tại Việt Nam bằng việc khai thác mẫu khảo sát đại diện quy mô lớn (VHLSS 2020), áp dụng mô hình kinh tế lượng đo lường đa chiều từ đặc điểm chủ hộ, hộ gia đình đến yếu tố cộng đồng.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Hệ số xác định của mô hình đạt $R^2 = 31%$. Do đặc thù dữ liệu điều tra cắt ngang (cross-sectional data) của VHLSS 2020, mô hình chưa kiểm soát được toàn diện các biến số về điều kiện tự nhiên, thời tiết, rủi ro thiên tai, dịch bệnh, thổ nhưỡng cụ thể và các yếu tố tập quán văn hóa đặc thù của từng nhóm dân tộc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu bằng việc sử dụng dữ liệu mảng (panel data) qua nhiều kỳ VHLSS để kiểm soát các yếu tố cố định không quan sát được theo thời gian, hoặc tích hợp thêm các biến số môi trường tự nhiên và biến đổi khí hậu cấp xã.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý công, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học; các cán bộ hoạch định chính sách dân tộc và giảm nghèo tại các bộ, ngành và địa phương.
  • Phần đáng tham khảo: Phương pháp lọc và làm sạch mẫu dữ liệu lớn VHLSS; quy trình xây dựng bảng biến số kết hợp giữa cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng; kỹ thuật hồi quy OLS bán logarit xử lý biến giả theo công thức $(e^{\beta_i}-1)\times 100%$ và kiểm định cực trị hàm bậc hai đối với biến tuổi.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn thu nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu nhập của hộ DTTS năm 2020?

Theo kết quả tính toán từ bộ dữ liệu VHLSS 2020 (Bảng 2.6), nguồn thu từ tiền lương chiếm tỷ trọng cao nhất với 49,33% tổng thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ DTTS. Tiếp theo là nguồn thu tự làm nông - lâm - thủy sản (chiếm 28,94%), tự làm phi nông - lâm - thủy sản (chiếm 18,02%) và các nguồn thu khác gồm trợ cấp, biếu tặng (chiếm 3,72%).

2. Quy mô mẫu nghiên cứu được xử lý như thế nào từ bộ dữ liệu VHLSS 2020?

Khảo sát VHLSS 2020 có tổng quy mô mẫu gốc là 46.980 hộ gia đình trên toàn quốc, trong đó có 8.094 hộ gia đình thuộc 53 DTTS. Sau khi thực hiện các bước lọc dữ liệu, loại bỏ quan sát thiếu thông tin hoặc sai lệch giá trị, tác giả thu được mẫu chính thức gồm 6.464 hộ gia đình DTTS đưa vào chạy mô hình hồi quy OLS.

3. Dân tộc thiểu số nào có thu nhập bình quân đầu người cao nhất và thấp nhất trong nghiên cứu?

Trong số các dân tộc được phân tích tại Bảng 2.4, dân tộc Hoa có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng cao nhất đạt 5.859,75 nghìn đồng. Ngược lại, dân tộc Bố Y có mức thu nhập thấp nhất chỉ đạt 240,72 nghìn đồng/người/tháng (chênh lệch hơn 24 lần so với dân tộc Hoa).

4. Thực trạng tiếp cận vốn vay tín dụng của hộ gia đình DTTS có đặc điểm gì nổi bật?

Phần lớn các hộ DTTS có vay vốn chỉ vay ở mức quy mô nhỏ: 64,3% hộ có khoản vay từ 21 đến 50 triệu đồng; 28,4% hộ vay từ 1 đến 20 triệu đồng; chỉ có 7,3% hộ tiếp cận khoản vay từ 51 triệu đồng trở lên dù mức trần cho vay ưu đãi của Ngân hàng Chính sách Xã hội là 100 triệu đồng. Thu nhập bình quân của nhóm hộ có vay vốn đạt 2.263,64 nghìn đồng, thấp hơn nhóm không vay vốn (2.502,69 nghìn đồng) do đa phần hộ vay thuộc diện nghèo và DTTS ít người.

5. Mô hình hồi quy xử lý vấn đề phương sai sai số thay đổi và giải thích biến giả như thế nào?

Để khắc phục hiện tượng phương sai sai số thay đổi, mô hình chuyển đổi biến thu nhập bình quân đầu người và biến diện tích đất sở hữu sang dạng logarit tự nhiên (logthunhapbq, logdtdat). Khi biến phụ thuộc ở dạng logarit, hệ số hồi quy của các biến giả độc lập $\beta_i$ không được đọc trực tiếp mà phải chuyển đổi qua công thức $(e^{\beta_i} - 1) \times 100%$ để phản ánh phần trăm chênh lệch thu nhập so với nhóm cơ sở.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Hồ Gia Huy đã lượng hóa toàn diện các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình dân tộc thiểu số tại Việt Nam dựa trên mẫu dữ liệu thực nghiệm 6.464 hộ từ VHLSS 2020. Kết quả nghiên cứu khẳng định trình độ học vấn, việc làm phi nông nghiệp, quy mô đất đai, tiếp cận điện lưới quốc gia và địa bàn đô thị hóa là những động lực then chốt thúc đẩy gia tăng thu nhập hộ DTTS. Công trình cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm và hàm ý chính sách quan trọng cho công tác giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.