Mở đầu: Nêu khái quát về bối cảnh và sự cần thiết của đề tài, đưa ra mục tiêu nghiên cứu chính của đề tài và đặt giả thiết về câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, kết quả mong đợi và đối tượng thụ hưởng. Cơ sở lý luận: Nêu một số khái niệm về đối tượng nghiên cứu và các nhân tố liên quan. Lược khảo một cách tổng quan tài liệu và phương pháp tiếp cận nghiên cứu của các nghiên cứu trước liên quan để chọn phương pháp nghiên cứu của đề tài. Phương pháp nghiên cứu: Nội dung trình bày phương pháp chọn vùng, mẫu nghiên cứu.
Đồng thời trình bày rõ về phương pháp thu thập số liệu từ sơ cấp đến thứ cấp. Cuối cùng nêu rõ phương pháp nghiên cứu từng mục tiêu cụ thể của đề tài. Kết quả và thảo luận: Phân tích số liệu đã được thu thập và thảo luận kết quả theo trình tự, hệ thống các câu hỏi đặt ra trong quá trình nghiên cứu, từ đó có một số gợi ý giải pháp liên quan đến kết quả thảo luận. Kết luận và kiến nghị: Trình bày ngắn gọn những nội dung được rút ra từ kết quả nghiên cứu theo các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra.
Kiến nghị một số vấn đề để thực hiện hiệu quả các giải pháp. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Khái niệm nông hộ và nguồn thu nhập của nông hộ Khái niệm nông hộ: Nông hộ là hộ gia đình mà các thành viên trong hộ sẽ dành phần lớn thời gian cho các hoạt động nông nghiệp cũng như một số hoạt động liên quan đến thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra. Theo Lê Thị Nghệ và nhóm nghiên cứu (2006), nông hộ có đặc điểm sau: là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng; quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất thể hiện ở trình độ phát triển của hộ tự cấp, tự túc.
Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường. Nguồn thu nhập của nông hộ: Thu nhập nông hộ ở đây, được xác định là toàn bộ số tiền thu được từ hoạt động nông nghiệp, phi nông nghiệp, làm công (làm thuê) và thu khác. Cụ thể, thu từ hoạt động nông nghiệp là từ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản đã trừ đi chi phí sản xuất bao gồm các khoản mục: nguyên vật liệu đầu vào (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), tiền thuê đất, thuê lao động, bảo quản, tiêu thụ; thu từ hoạt động phi nông nghiệp là thu từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp trừ đi chi phí sản xuất và chi phí khác có liên quan. Trong nghiên cứu này, nguồn thu từ việc bán các tài sản trong nông hộ như nhà cửa, phương tiện đi lại, vàng và đồ trang sức,… không được đề cập, phân tích mà thu nhập của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu bao gồm từ các nguồn chính sau: Thu nhập từ hoạt động trồng trọt; Thu nhập từ hoạt động chăn nuôi; Thu nhập từ hoạt động nuôi trồng thủy sản; Thu nhập từ hoạt động kinh doanh; Thu nhập từ hoạt động làm thuê (tiền lương, tiền công); 7 Các khoản thu nhập khác như tiền lãi tiết kiệm, trợ cấp của chính phủ, hoặc từ người thân.
Các nguồn thu nhập được liệt kê trên sẽ được sử dụng để đo lường và phân tích mức độ đa dạng hóa thu nhập của nông hộ thông qua chỉ số Simpson căn cứ vào tỷ trọng của từng nguồn thu nhập so với tổng thu nhập của nông hộ. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập Trong nông nghiệp, đa dạng hoá, theo nghĩa hẹp, có nghĩa là tăng chủng loại sản phẩm nông nghiệp hoặc dịch vụ do nông dân làm ra. Trong nhiều năm, đa dạng hóa đã là một chiến lược truyền thống của các nông hộ để đối phó với các rủi ro và duy trì an toàn lương thực (Ahmad và Isvilanonda, 2003). Đa dạng hóa thể hiện sự phản ứng của các nông dân sản xuất tự cung tự cấp để giảm các rủi ro do các yếu tố mùa vụ, thời tiết, sinh học và khí hậu gây ra.
Đa dạng hóa thu nhập là thuật ngữ thường được sử dụng để mô tả trường hợp nông hộ phân phối nguồn lực của họ cho các hoạt động khác nhau. Theo Barrett và Reardon (2001) cho rằng: “đa dạng hóa được hiểu phổ biến như là một hình thức tự đảm bảo thu nhập trên cơ sở lựa chọn các hoạt động ít có sự biến động ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập”. Bên cạnh đó, Ellis (2000) cũng xác định rằng đa dạng hóa thu nhập là một quá trình sử dụng đa dạng các nguồn lực cho các hoạt động khác nhau nhằm mục đích tồn tại và cải thiện điều kiện sống của hộ. Như vậy, trong nghiên cứu này đa dạng hóa thu nhập được xem là quá trình mà nông hộ quyết định tham gia thực hiện các hoạt động khác nhau nhằm mục đích gia tăng số lượng các nguồn thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của nông hộ (Ellis, 1998).
Những nông hộ có thu nhập ngoài nguồn thu nhập chính mang lại từ các hoạt động nông nghiệp được xem là nông hộ đa dạng hóa thu nhập và ngược lại nông hộ chỉ có thu nhập từ nông nghiệp được xem là không đa dạng hóa thu nhập. Theo Ngân hàng thế giới: đa dạng hóa có thể bao gồm cả đa dạng hóa theo trục ngang sang các chủng loại hàng hoá mới hoặc theo trục dọc sang các hoạt động phi nông nghiệp như tiếp thị, bảo quản và chế biến. Ở giai đoạn ban đầu, đa dạng 8 hóa xảy ra với các loại cây trồng mới, với sự chuyển đổi ra khỏi sản xuất độc canh. Ở giai đoạn sau, nông hộ có thể có nhiều dạng kinh doanh sản xuất và buôn bán các sản phẩm ở nhiều thời điểm khác nhau trong năm.
Ở giai đoạn cao nhất, nông hộ thậm chí có thể vượt ra khỏi ngành nông nghiệp để vươn sang các hoạt động phi nông nghiệp. Tóm lại, đa dạng hóa ở mức độ nông hộ, vùng, quốc gia thường gắn liền với sự tăng lên của thu nhập. Cụ thể, ở mức độ cả nước, đa dạng hóa thể hiện sự thay đổi cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, hoặc trong nội bộ ngành nông nghiệp thì sẽ chuyển từ lĩnh vực trồng trọt sang chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và dịch vụ nông nghiệp. Theo Ngân hàng thế giới (2005) thì đa dang hóa thu nhập trong nông nghiệp bởi vì: Thứ nhất, là tăng thu nhập của người dân và giảm nhu cầu các mặt hàng lương thực truyền thống: Sản lượng lúa gạo sản xuất ra đã tăng đáng kể, nhưng nhu cầu lương thực truyền thống kể cả lúa gạo đã bắt đầu giảm trong thập kỷ gần đây.
Điều này có lẽ do sự thay đổi đáng kể trong thu nhập của người dân kéo theo nhu cầu tiêu dùng của họ cũng thay đổi, trong đó nhu cầu lương thực đã qua chế biến có giá trị cao và các hàng hóa phi lương thực tăng cao. Thứ hai, an toàn thu nhập và giảm rủi ro: Với xu hướng biến động lớn về giá cả nông sản, việc đa dạng hóa các cây trồng và các hệ thống sản xuất vào nhiều thời điểm khác nhau trong năm sẽ giúp nông dân giảm bớt các khó khăn thông qua việc giảm bớt rủi ro để ổn định thu nhập cho nông hộ. Thứ ba, sử dụng hiệu quả tài nguyên: Việc đa dạng hóa sẽ giúp cải thiện hiệu quả sử dụng và phân bổ tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp. Thông qua đa dạng hóa, nông dân sẽ tìm ra cách sử dụng các tài nguyên của họ hợp lý hơn để đạt được hiệu quả hoàn vốn cao hơn và sản phẩm của họ được tiếp thị dễ dàng hơn.
Đa dạng hóa cũng còn là phương thức hiệu quả để tối ưu hóa sử dụng nguồn vốn xã hội (như lao động nông thôn) trong các vùng nông thôn nơi mà thất nghiệp và không đủ việc làm vẫn còn cao. 9 Thứ tư, quản lý môi trường hiệu quả: Ngoài các khía cạnh kinh tế đã được nêu trên, đa dạng hóa nông nghiệp có hiệu quả sẽ đóng góp tích cực vào việc cải thiện môi trường tự nhiên và môi trường sản xuất. Một số mô hình sản xuất độc canh hiện nay (ví dụ như độc canh cây lúa) đang tạo ra các quan ngại về môi trường và sẽ không bền vững về lâu dài. Sản xuất độc canh thường gây ra sự suy thoái về dinh dưỡng trong đất, sử dụng quá nhiều hóa chất và gây ô nhiễm, đồng thời tạo ra các loại dịch hại có sức đề kháng cao.
Do vậy, đa dạng hóa nông nghiệp có hiệu quả sẽ tạo cho nông dân một phương thức canh tác bền vững để tránh các vấn đề lâu dài về môi trường gây ra do sản xuất độc canh. Các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa thu nhập của nông hộ Khả năng về nguồn lực: Nguồn lực của nông hộ trong nghiên cứu này bao gồm diện tích đất, nguồn vốn, tỷ lệ lao động, trình độ học vấn…Đây là những yếu tố cơ bản tác động trực tiếp đến nông hộ có khả năng đa dạng hóa hay không. Các yếu tố môi trường bên ngoài: Ngoài khả năng về nguồn lực thì các yếu tố bên ngoài cũng góp phần tác động đến hành vi đa dạng hóa sản xuất của nông hộ. Đặc biệt nông hộ sản xuất chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp thì quá trình sản xuất sẽ phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên.
Bên cạnh đó, sự thay đổi về chính sách và sự biến động của thị trường cũng ảnh hưởng đến hành vi đa dạng hóa sản xuất của nông hộ nhằm mục đích giảm rủi ro và ổn định thu nhập. Các hình thức đa dạng hóa thu nhập: Chuyển từ hoạt động trồng trọt có giá trị thấp sang hoạt động chăn nuôi hoặc nuôi trồng thủy sản có giá trị cao hơn. Đa dạng hóa thông qua việc tham gia các hoạt động phi nông nghiệp, vì đặc điểm của sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ và thu nhập thấp hơn so với các ngành khác. Vì vậy, các thành viên của nông hộ có xu hướng tìm các công việc khác để làm thêm lúc nhàn rỗi trong mùa vụ hoặc sau mùa vụ như kinh doanh nhỏ (quán nước, tạp hóa), dịch vụ (sửa xe, chạy xe ôm),… nhằm góp phần tăng thu nhập cho nông hộ.