Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tông quan tài liệu 1. Nghiên cứu trong nước - Huỳnh Trường Huy (2019) thực hiện nghiên cứu về cách tiếp cận CGT dé tiếp cận ngành hàng nông sản. Một số vấn đề thực hiện tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tông quan về chính sách, dự án phát triển thị trường nông san theo hướng CGT sản phẩm; đồng thời cũng dé chỉ ra một số điểm tắt nghẽn, vướng mắc trong quá trình vận dụng cách tiếp cận CGT để phát triển những nông sản chủ lực ở một số địa phương tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Qua phân tích cho thấy việc phát triển nông sản theo CGT vẫn còn một số hạn chế. - Lê Văn Gia Nhỏ và Lê Bửu Minh Quân (2019) dé tai phân tích CGT cam Sanh ở tỉnh Hậu Giang, nghiên cứu tiến hành khảo sát trên 99 hộ sản xuất cam Sanh trên địa ban tỉnh Hậu Giang và các tác nhân khác tham gia trong CGT cam Sanh, bao gồm các cơ sở sản xuất, cửa hàng/đại lý phân phối sản phẩm đầu vào, thương lái, chủ vựa trong và ngoài Tỉnh và các cửa hàng/người bán lẻ trong và ngoài Tỉnh, thông qua các hình thức phỏng van trực tiếp va thảo luận nhóm. Nhóm nghiên cứu đã đề xuất 5 chiến lược dé nâng cấp CGT bao gồm: (i) Tiếp tục mở rộng việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm, (1) Quy hoạch lại vùng trồng cam Sanh theo hướng bên vững (giá cả đầu ra ôn định; tối thiêu hóa chi phí; duy trì độ phì của đất đai), (iii) Mở rộng liên kết sản xuất và tiêu thụ cam Sanh theo tiêu chuẩn chất lượng (GlobalGAP, hữu co) với các siêu thị, cửa hang phân phối sản phẩm nông nghiệp, thương lái và chủ vựa lớn ngoài Tỉnh và hướng đến việc phát triển kênh xuất khâu, (iv) Nâng cao năng lực sản xuất, chế biến và tiếp cận thông tin thị trường cho các hộ sản xuất, hợp tác xã hoặc tổ hợp tác sản xuất cam Sanh và (v) Củng cô và nâng chất lượng hoạt động của các tổ hợp tác và hợp tác xã sản xuất cam Sanh.
- Đoàn Minh Vuong, Võ Thi Thanh Lộc, Huynh Vũ Kiệt và Nguyễn Thanh Tiến (2015) với đề tài nghiên cứu phân tích CGT Thanh Long tại huyện Chợ gạo tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu dựa vào lý thuyết CGT của Kaplinsky & Morris (2001), phương pháp liên kết CGT của GTZ Eschborn (2007), bộ công cụ phân tích CGT của Võ Thị Thanh Lộc và Nguyễn Phú Son (2013) và sự tham gia của các tác nhân tham gia chuỗi. Kết quả phân tích CGT Thanh Long cho thấy có 5 tác nhân tham gia thị trường CGT gồm nông dân, thương lái, người bán si (chợ đầu mối), người bán lẻ va công ty xuất khẩu phan lớn xuất khẩu thị trường Trung Quốc. Bên cạnh đó qua phân tích kinh tế chuỗi cho thấy, nông dân trồng Thanh Long có tiền tiết kiệm/năm/người cao hơn 10 lần so với nông dân trồng lúa.
- Nguyễn Phú Son và Nguyễn Thị Thu An (2013) đã thực hiện nghiên cứu CGT Táo Ninh Thuận. Nghiên cứu khảo sát 126 tác nhân tham gia CGT tại 3 huyện Ninh Hải, Ninh Phước, Phan Rang của tỉnh Ninh Thuận và các chuyên gia trong lĩnh vực này. Nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp tiếp cận liên kết CGT và phân tích lợi thế cạnh tranh (SWOT) ngành hàng. Kết quả nghiên cứu cho thay, CGT hiện tại có 2 kênh phân phối truyền thống đối với sản phẩm táo tươi và 1 kênh phân phối tiềm năng đối với sản phẩm táo sấy.
Phân phối lợi ích giữa các tác nhân trong chuỗi hiện theo hướng không có lợi cho người trồng. Tuy nhiên, vẫn có những điểm dé cải thiện hiện trạng phân phối thu nhập này giữa các tác nhân theo hướng gia tăng phân phối thu nhập cho người trồng. Qua phân tích ma trận SWOT nghiên cứu đã đề xuất được 4 nhóm chiến lược, bao gồm 8 nhóm hoạt động cần thực hiện dé gia tăng lợi nhuận của toàn chuỗi nói chung và cho người trồng nói riêng. Các nghiên cứu nước ngoài Cho đến nay đã có rất nhiều các nghiên cứu về chuỗi giá trị và được ứng dụng rộng rãi trong phân tích các chuỗi giá trị sản phẩm và ngành hàng tại các quốc gia trên thế giới.
Michael Porter (1985) “Competitive Advantage”, các phương pháp phân tích chuỗi giá trị đó là: Khung khái niệm của phương pháp tiếp cận “filière” (Phân tích ngành hàng - CCA) và R. Kaplinsky (1999) “Globalization and Unequalization”, phương pháp tiếp cận toàn cầu. Michael Porter đã dùng khung phân tích chuỗi giá trị để đánh giá xem một công ty nên tự định vị mình như thế nào trên thị trường và trong mối quan hệ với các đối tác và đối thủ cạnh tranh. Tiếp cận “filière” do các học giả người Pháp xây dựng trên các phân tích về tạo giá trị gia tăng trong nghiên cứu nông nghiệp Hoa Kỳ để phân tích quá trình hội nhập hàng doc và hợp đồng công nghiệp chế tạo trong nông nghiệp Pháp trong thập niên 60.
Tập trung vào đánh giá kinh tế và tài chính, chủ yếu là tập trung vào phân tích việc tạo ra thu nhập trong ngành hàng, tách chi phí và thu nhập giữa các thành phần thương mại địa phương và quốc tế, phân tích vai trò của ngành hàng đối với nền kinh tế quốc gia và sự đóng góp của nó vào GDP. Đồng thời phân tích chuỗi, là làm công cụ dé nghiên cứu cách thức mà các hệ thống sản xuất nông nghiệp (cao su, bông, cà phê, đừa.) được tô chức trong bối cảnh của các nước dang phát triển. Khung filière chú trọng đặc biệt đến cách các hệ thống sản xuất địa phương được kết nối với công nghiệp chế biến, thương mại, xuất khẩu và khâu tiêu dùng cuối cùng. Phương pháp tiếp cận toàn cầu: Phân tích chuỗi giá trị có thé giúp giải thích quá trình toàn cầu hóa có nhận thức khoảng cách thu nhập trong và giữa các nước tăng lên đặc biệt là trong môi trường năng động.
Aramyan (2007), “Do lường hiệu suất chuỗi giá trị trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm”. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là đóng góp vào sự phát triển của hệ thống phương pháp đo lường hiệu suất cho chuỗi giá trị nông nghiệp - thực pham liên quan đến toàn bộ chuỗi và bao gồm một tập hợp tất cả các chỉ số hiệu suất. Khuôn khổ khái niệm này được sử dụng đánh giá trong một chuỗi giá trị sản phẩm Cam Hà Lan - Đức và tiếp tục phát triển thành một mô hình khái quát với những chi số hoạt động quan trọng. Kết quả cho thấy: Chỉ số hiệu suất toàn chuỗi giá trị nông nghiệp - thực phâm được phân bô ở các khâu gôm: Ở các nhà chê biên và xuât khâu khoảng 61%, người trồng Cam ở quy mô lớn chiếm 19 %, người trồng Cam ở quy mô trung bình chiếm 5% và người trồng Cam ở quy mô nhỏ chiếm 6%.
Riêng các nhà cung cấp hạt giống chiếm khoảng 3% giá trị gia tăng và các nhà cung cấp hóa chất nông nghiệp chiếm khoảng 4%. Cuối cùng là các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyền (độc lập với các nhà chế biến và xuất khẩu) chiếm 2%. Kế thừa các tiếp cận trên, Aramyan (2007) đã có một nghiên cứu về đo lường hiệu suất CGT trong lĩnh vực nông nghiệp - thực phẩm. Mục tiêu chính của nghiên cứu này là đóng góp vào sự phát triển của hệ thống phương pháp đo lường hiệu suất cho CGT nông nghiệp - thực phẩm liên quan đến toàn bộ chuỗi (tức là tất cả các giai đoạn bắt đầu từ người cung cấp nguyên liệu đầu vào đến sản xuất, thu gom, chế biến và cuối cùng là bán sản pham cho người tiêu dùng) và bao gồm một tập hợp tat ca các chỉ số hiệu suất.
Dựa trên tài liệu về chỉ số hiệu suất hiện có và các mô hình trong các tài liệu CGT, một khung khái niệm đề đo lường hiệu suất của CGT nông nghiệp thực phẩm được phát triển bao gồm các chỉ số tài chính, phi tài chính, cũng như kết hợp với đặc điểm cụ thé của CGT nông nghiệp - thực pham. Khuôn khổ khái niệm này được sử dụng đánh giá trong một CGT sản phẩm Nho Hà Lan - Đức và tiếp tục phát triển thành một mô hình khái quát với những chỉ số hoạt động quan trọng. Kết quả cho thay chỉ số hiệu suất toàn CGT nông nghiệp thực phâm được phân bố ở các khâu gồm: Ở các nhà chế biến và xuất khẩu khoảng 61%; người trồng Nho ở quy mô lớn, quy mô trung bình, quy mô nhỏ lần lượt chiếm 19%, 5% và 6%. Riêng các nhà cung cấp hạt giống chiếm khoảng 3% giá trị gia tăng và các nhà cung cấp hóa chất nông nghiệp chiếm khoảng 4%.
Cuối cùng là các nhà cung cấp dịch vụ vận chuyển (độc lập với các nhà chế biến và xuất khẩu) chiếm 2%. Đánh giá đúc kết các công trình nghiên cứu trước Qua nghiên cứu các tai liệu có liên quan trong và ngoài nước nêu trên, tác gia nhận thấy đề nghiên cứu chuỗi giá trị ngành hàng thì chúng ta có 3 cách tiếp cận như sau: - Cách thứ nhất: Theo Filière tiếp cận chuỗi giá trị bằng các mối liên kết đọc, ngang và trong chuỗi giá trị phải có tác nhân làm chủ đạo dé dẫn dắt, định hướng, bảo đảm sự thành công của chuỗi giá trị. - Cách thứ 2: Theo Michael Porter trên cơ sở tiếp cận của Filière ông Porter đã b6 sung thêm cách tiếp cận giá trị gia tăng (VA) vào trong chuỗi, theo ông Porter trong quá trình hoạt động của mỗi tác nhân trong chuỗi đều có thé tạo ra VA do đó việc nghiên cứu xem VA của mỗi tác nhân có phù hợp chưa đề từ đó đưa ra cách điều chỉnh hợp lý. Ông cũng cho rằng VA này được tạo ra bởi sự tác động của tác nhận chính và tác nhân hỗ trợ.
- Cách thứ 3: Tiếp cận toàn cầu theo ông Kaplinsky dé nhận biết chúng ta phải phân tích chuỗi giá trị giúp giải thích khoảng cách thu nhập trong nước, giữa các nước tham gia chuỗi nhằm tăng VA lên. - Từ nhận định trên tác giả chọn cách tiếp cận chuỗi giá trị ngành Nho theo cách 1, cách 2 và 3 dé thực hiện tiếp cận về nội dung đề tài của mình trong quá trình nghiên cứu. - Nhìn chung chuỗi giá trị các ngành hàng nông sản tương đối tương đồng nhau nhưng các yếu tố ảnh hưởng tại mỗi vùng kinh tế - xã hội va tập quán canh tác là khác nhau, do đó có những mô hình cho hiệu quả kinh tế nhưng cũng có mô hình có hiệu quả kinh tế thấp.