Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học về sản xuất chè 1.1 Giới thiệu về cây Chè 1.1 Nguồn gốc cây chè Việt Nam Trong tác phẩm Vân Đài loại ngữ (1773) Lê Quý Đôn đã ghi chép về cây chè như sau: "Cây chè đã có từ lâu đời tại Việt Nam, đặc biệt là ở vùng núi Am Thiên, Am Các và Am Giới, huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Người dân bản địa hái lá chè về, giã nát ra, phơi trong râm, sau đó nấu nước uống. Chè có vị chát, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, mát tim phổi, giải khát và giúp ngủ ngon." Năm 1882, các nhà thám hiểm Pháp đã thực hiện một chuyến khảo sát về sản xuất và buôn bán chè ở miền núi phía Bắc Việt Nam. Họ đã hành trình từ Hà Nội vượt qua cao nguyên Mộc Châu, đi qua Lai Châu và cuối cùng đến đến vùng Ipang thuộc tỉnh Vân Nam, nơi có những cây chè đại cổ thụ Năm 1976, các nhà khoa học ở Liên Xô đã tiến hành nghiên cứu về quá trình tiến hóa của cây chè.
Họ đã tiến hành đánh giá phân tích chất cafein trong chè mọc hoang dại ở các vùng chè Vân Nam, Tứ Xuyên, Trung Quốc và các vùng chè cổ Việt Nam (Nghĩa Lộ, Suối Giàng, Lạng Sơn). Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, cây chè cổ Việt Nam tổng hợp các cafein đơn giản nhiều hơn so với cây chè Vân Nam. Dựa trên điều này, ông đã đề xuất một sơ đồ tiến hóa của cây chè trên toàn cầu như sau: Camellia → Chè Việt Nam → Chè lá to Vân Nam → Chè Trung Quốc → Chè Assam (Ấn Độ). Nguồn gốc của cây chè đã được các nhà khoa học trên khắp thế giới xác định nằm trong một vùng sinh thái có hình dáng giống cái quạt, nằm giữa các ngọn đồi Lushai, Naga và Manipuri.
Vùng sinh thái này nằm dọc theo đường biên giới ở phía Tây giữa Myanmar và Assam, chạy ngang Vân Nam ở phía đông, và chạy qua các ngọn đồi của Thái Lan Myanmar chạy vào Việt Nam. 5 Cây chè - Lịch sử phát triển ở Việt Nam * Từ năm 1882 về trước Nông dân trồng chè với hai hình thức - Trồng lấy lá chè tươi để uống ở nhiều khu vực Hà Đông, đồng bằng Sông Hồng, Nghệ An - Lấy chè trên rừng để uống chè mạn như các vùng Hà Giang, Bắc Hà * Từ năm 1882 đến năm 1945 Xuất hiện them loại chè Công nghiệp, có màu đen, thông qua quá trình sao chảo, uống có vị chát, thơm, uống xong ngọt. Từ đó Việt Nam bắt đầu phát triển các đồn điền chè lớn với công nghệ hiện đại. Xen kẽ với đó là người dân sản xuất chè tiêu nông.
Châu Âu và Châu Phi là các thị trường xuất khẩu chính. * Từ năm 1945 đến nay Việt Nam phát triển them các nông trường, hợp tác xã cùng nhau canh tác chè đen, xuất khẩu sang các nước XHCN ở Đông Âu, Trung Quốc. Ngày càng mở rộng thị trường tiêu thụ và đứng vào hàng ngũ các quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất.2 Vai trò của chè với đời sống con người Chè là một loại cây công nghiệp có thời gian trồng dài hạn, chỉ cần trồng một lần để thu hoạch trong nhiều năm, khoảng từ 30 đến 50 năm. Việc trồng và chăm sóc cây chè bắt đầu từ giai đoạn đầu, liên tục cho đến sau 3 năm, sau đó cây chè đã sẵn sàng để tham gia vào hoạt động kinh doanh, mang lại nguồn thu nhập kinh tế hàng năm nhờ vào năng suất và sản lượng tương đối ổn định.
Từ các chiếc lá non tươi của cây chè, tùy thuộc vào công nghệ và phương pháp chế biến, sẽ tạo ra các loại sản phẩm chè đa dạng khác nhau: Chè vàng, chè đen, chè xanh. 6 Chè chứa nhiều loại vitamin và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe. Chúng có khả năng bồi bổ cơ thể, giúp giải khát, cung cấp dưỡng chất, đồng thời hỗ trợ quá trình tiêu hóa chất béo và giảm nguy cơ béo phì, cùng với khả năng chống lại quá trình lão hóa. Nhờ vào những lợi ích này, chè đã trở thành một loại đồ uống phổ biến trên toàn cầu.
Việc sử dụng chè hàng ngày đã tạo ra một nét văn hóa đóng góp vào hình thành các nền văn hóa đa dạng. Khoa học hiện đại đã tiến xa trong quá trình nghiên cứu và khám phá nhiều hoạt chất có giá trị xuất phát từ sản phẩm của cây chè. Các nhà nghiên cứu đã thành công trong việc chiết suất các thành phần độc đáo từ cây chè, bao gồm cà phêin, vitamin B6, B1, B2, A, và vitamin C, những chất này được ứng dụng trong việc điều chế thuốc trong y học hiện đại. Do đó, chè không chỉ được xếp trong danh mục đồ uống, mà còn có vị trí quan trọng trong dược học và y học.
Người Nhật Bản đã tìm ra rằng chè đã đóng vai trò quan trọng trong việc giúp con người vượt qua tác động của phóng xạ. Những người sống tại vùng trồng chè xanh, như nạn nhân tại vùng Hiroshima, đã thể hiện sức khỏe tốt là bằng chứng chứng minh vai trò chống phóng xạ của các loại chè xanh. Chè có tầm quan trọng với cuộc sống của con người, Uống trà đã dần trở thành một nét văn hóa, một tập quán, phong tục và sở thích của nhiều quốc gia trên thế giới. Việt Nam cũng có phong tục uống trà đã tồn tại từ rất lâu đời, giống như nhiều quốc gia khác.
Trà và rượu đã trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam, hiện nay, từ nông thôn tới thành thị, từ giới trẻ đến người trung niên và có tuổi, mỗi người đều có văn hóa, hoạt động thưởng trà khác nhau. Thậm chí có những người còn muốn uống đến nước thứ ba của trà, vì họ cho rằng đến đó mới thưởng thức hết được hương vị. Ngoài ra văn hóa thưởng trà đòi hỏi một trình độ thưởng thức nâng tầm và có thể dung cụm từ nghệ thuật. Ở một số quốc gia, trà được coi như một loại đạo, hay còn gọi là trà đạo, còn trong văn hóa Việt, trà được coi là đầu câu chuyện, được pha khi khách đến chơi nhà để cùng thưởng thức, nói chuyện.
Nó thể hiện sự trân trọng 7 lịch sự và một nét văn hóa trong ứng sử của người Việt, nó cũng thể hiện sự mến khách, tiếp đại trọng thị của chủ nhà. Từ những nét văn hóa như vậy, nó đã làm cho người ta hiểu hơn về văn hóa Á Đông, hoặc Văn hóa Việt, làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần và ý nghĩa cuộc sống Chè là cây trồng có giá trị về mặt kinh tế, trồng chè không chỉ giúp cải thiện thu nhập cho các hộ gia đình mà còn giúp họ làm giàu. Cùng với chiến lược phát triển, những năm gần đây, cây chè đã là một trong những sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Tuy nhiên, thị trường ngày càng đòi hỏi chất lượng cao hơn, do đó người nông dân cần tiếp dục đẩy mạnh phát triển cây chè theo chiều sâu, kết hợp với phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật để cải thiện chất lượng cây chè.
Rõ rang, cây chè là loại cây có tiềm năng kinh tế cao, có thể đưa vào khai thác ở khu vực trung du và miền núi. Ngoài ra cây chè còn có tác dụng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, phủ xanh đất. Việt Nam có một số khu vực có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp với canh tác cây chè, người dân có tập quán canh tác từ lâu, nguồn lao động giá rẻ, dồi dào, nên sẽ là một thế mạnh nếu có thể quy hoạch vùng sản xuất chè hướng tới xuất khẩu, từ đó khai thác hết thế mạnh của các địa phương (Tô Linh Hương, 2017). Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè Cây chè là cây khó trồng, do đó từ khâu chế biến đến khâu sản xuất đòi hỏi kỹ thuật phải tốt, ngoài ra khâu chăm sóc, bảo quản và thu hoạch cũng cần đúng quy trình.
Do đó để có được sản phẩm chè chất lượng, hộ gia đình cần có kỹ thuật canh tác tốt, áp dụng và không ngừng nâng cao năng lực về khoa học, kỹ thuật, giảm bớt các khâu không cần thiết, kỹ thuật canh tác truyền thống để từ đó tạo ra được những sản phẩm có chất lượng, năng lực cạnh tranh, từ đó có thể giới thiệu câu chè đến các bạn bè trong và ngoài nước. Do cây chè được coi là cây trồng mũi nhọn của các tỉnh miền núi phía Bắc, nên cần thực hiện chuyên canh, với quy mô trồng lớn, từ đó nâng cao chất lượng, năng suất của chè, góp phần cải thiện đời sống của người dân. 8 Từ những nghiên cứu trước, chúng ta có thể liệt kê các nhân tố tác động đến chè: Các yếu tố tự nhiên - Thổ nhưỡng: Thổ nhưỡng là yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất, nhất là canh tác nông nghiệp và canh tác chè. Thổ nhưỡng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố như: Sản lượng, năng suất, chất lượng của cây chè, nó cũng quyết định Chè phân bố và trồng thế nào cho hiệu quả.
Người nông dân luôn phải để ý đến độ cao của địa hình, vì nó ảnh hưởng đến hương vị của cây chè. Thông thường độ cao tốt nhất cho trồng chè là từ 400 đến hơn 800m so với mực nước biển. Mặc dù cây chè không yêu cầu kĩ thuật cao như các cây trồng khác, tuy nhiên để sinh trưởng tố thì cần có đất đạt tiêu chuẩn, hay nói cách khác, thổ nhưỡng là yếu tố quyết định, ở đây nó có thể bao gồm độ sâu khoảng 60cm, mực nước ngầm dưới 1m, độ chua, độ dày của mùn, mức độ thoát nước, độ Ph. Ngoài ra đạ hình nên là đất dốc, đối núi dốc vì nó ảnh hưởng đến chất lượng phát triển, sinh trưởng của cây chè, nó cũng ảnh hưởng đến mùi vị của chè.
- Khí hậu: Khí hậu cùng với thổ nhưỡng ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng của cây chè, các yếu tố như: độ ẩm, nhiệt độ không khí, thời gian chiếu sáng, lượng mưa, sự thay đổi mùa, sương muối đều có thể ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng chè. Nhiệt độ để Chè có thể sinh trưởng là trên 10 độ. Nhiệt độ trung bình hàng năm có thể từ 10 đến 20 độ, nó cũng có thể phát triển, sinh trưởng trong khoảng nhiệt độ từ 14 đến 24 độ. Nếu phân theo mua thì mùa Đông chè không sinh trưởng, còn mùa xuân thì sinh trưởng mạnh Cây chè đòi hỏi một lượng nhiệt hàng năm trong khoảng từ 3000 - 4000C.