Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế Chính trị (mã số: 9.02) của tác giả Võ Xuân Hội, thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phí Mạnh Hồng và TS. Đinh Quang Ty (Hà Nội, 2022), nghiên cứu về chủ đề: "Phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Phú Yên".

Về tính cấp thiết, phân phối giữ vị trí then chốt trong quá trình tái sản xuất xã hội, có mối quan hệ biện chứng với sản xuất và các khâu trao đổi, tiêu dùng. Phân phối nói chung và phân phối thu nhập nói riêng có tác động trở lại đối với sản xuất: khi quan hệ phân phối xử lý đúng đắn, hài hòa lợi ích kinh tế của các chủ thể tham gia sản xuất thì sẽ thúc đẩy kinh tế tăng trưởng; ngược lại, nếu phân phối bất hợp lý sẽ triệt tiêu động lực đầu tư của chủ sở hữu và nỗ lực lao động của người làm công, gây bất ổn xã hội. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, việc theo đuổi tăng trưởng đơn thuần dẫn tới tình trạng tăng trưởng bị ngắt quãng, tổn hại môi trường và gia tăng bất bình đẳng, buộc các quốc gia phải chuyển dịch sang chiến lược phát triển bền vững, gắn tăng trưởng với an sinh và công bằng xã hội. Tại Việt Nam, quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chủ trương thực hiện đa dạng các hình thức phân phối (theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, mức đóng góp vốn/nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội).

Tại tỉnh Phú Yên, đặc điểm kinh tế - xã hội bộc lộ nhiều điểm cần giải quyết: đây là tỉnh thuần nông, quy mô kinh tế nhỏ bé. Năm 2020, thu nhập bình quân đầu người một tháng đạt 1.942 ngàn đồng (tính theo giá so sánh 2010), chỉ bằng 76,22% mức bình quân chung của cả nước. Hơn 67% dân số toàn tỉnh cư trú ở khu vực nông thôn và miền núi, trong đó hộ đồng bào dân tộc thiểu số miền núi chiếm 24%. Theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020, số hộ nghèo của tỉnh chiếm 2,96% (7.756 hộ; trong đó nông thôn có 6.574 hộ, chiếm 84,76%; thành thị có 1.182 hộ, chiếm 15,24%), số hộ cận nghèo chiếm 8,57% (19.958 hộ; nông thôn có 15.122 hộ, chiếm 75,77%; thành thị có 4.836 hộ, chiếm 24,23%). Khoảng cách chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất (nhóm 5) và nhóm thấp nhất (nhóm 1) năm 2020 lên tới 7,72 lần. Hệ số GINI bình quân giai đoạn 2008-2020 của tỉnh là 0,343 điểm (thấp hơn mức bình quân chung của cả nước cùng giai đoạn 0,078 điểm), phản ánh phân phối thu nhập tương đối bình đẳng nhưng hệ số này đang có chiều hướng gia tăng. Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải làm rõ thực trạng và đề xuất giải pháp xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập tại địa phương.

Mục đích nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở phân tích vấn đề phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên, luận án hướng đến việc phát hiện những khía cạnh bất cập cần giải quyết cũng như đề xuất các giải pháp nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập theo quan điểm tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững ở Phú Yên trong những năm tới.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:

  1. Một là, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề phân phối thu nhập trong tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế.
  2. Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng phân phối thu nhập trong tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên giai đoạn năm 2008-2020, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế.
  3. Ba là, đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm thực hiện phân phối thu nhập trong tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên đúng đắn, công bằng và hợp lý hơn trong thời gian tới.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án gồm 3 câu hỏi:

  • Câu hỏi 1: Tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên những năm qua đã tạo ra những tiền đề gì cho phân phối thu nhập?
  • Câu hỏi 2: Phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở Phú Yên diễn ra như thế nào? Những vấn đề nổi lên cần xử lý, giải quyết?
  • Câu hỏi 3: Cần phải làm gì để giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế ở Phú Yên trong giai đoạn tới?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi nội dung: Phân phối thu nhập trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020; phân tích theo khu vực thành thị với nông thôn, đồng bằng và miền núi, hộ dân tộc Kinh và dân tộc thiểu số, giữa các ngành sản xuất; so sánh với một số vùng và cả nước thông qua các chỉ tiêu: thu nhập bình quân đầu người/tháng, thu nhập bình quân đầu người trong doanh nghiệp theo địa phương, phân phối theo ngành và giới tính, phân phối theo nhóm dân cư, nguồn thu nhập, hệ số GINI, tiêu chuẩn "40" của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ hộ nghèo và mức chi tiêu.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Phú Yên.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn năm 2008-2020 (dữ liệu khảo sát sơ cấp đánh giá giai đoạn 2008-2018).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu ngoài nước được luận án phân chia thành các mạch tư tưởng và công trình cụ thể:

  • Về lý luận phân phối cổ điển: W. Petty (1623-1687) đặt nền móng với lý luận về tiền lương tối thiểu và quy luật sắt về tiền lương, chỉ ra quan hệ nghịch biến giữa tiền lương và lợi nhuận; F. Quesnay (1694-1774) gắn tiền lương tối thiểu với khu vực nông nghiệp; A. Smith (1723-1790) phân định ba giai cấp cơ bản gắn với quyền sở hữu tư liệu sản xuất và nhận thu nhập ban đầu (tiền lương của công nhân, lợi nhuận của tư bản, địa tô của địa chủ) cùng phân phối lại; D. Ricardo (1772-1823) phát triển lý luận giá trị lao động, phân tích giá cả thị trường và giá cả tự nhiên của lao động, khẳng định sự nghịch biến giữa tiền công và lợi nhuận.
  • Về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập: Simon Kuznets (1955) với tác phẩm "Economic Growth and Income Inequality" đưa ra giả thuyết đường cong chữ "U ngược"; Ahluwalia (1976), Psacharopoulos và các cộng sự (1995) đồng thuận với xu hướng bất bình đẳng gia tăng ở giai đoạn đầu và giảm dần ở giai đoạn sau; Deininger và Squire (1996), Chen và Ravallion (1997), Easterly (1999), Dollar và Kraay (2002) đưa ra kết luận tăng trưởng không tác động tới mức độ bất bình đẳng; Persson và Tabellini (1994), Clarke (1995), Perrotti (1996), Alesina và Rodrik (1994) lập luận bất bình đẳng làm tổn hại tăng trưởng; Li và Zou (1998), Frank (1998, 2009), Partridge (1997) xác định mối quan hệ cùng chiều; Barro (1999) chỉ ra bất bình đẳng thúc đẩy tăng trưởng ở nước giàu nhưng kìm hãm ở nước nghèo; Banerjee và Duflo (2003) phân tích tương quan hình chữ U ngược; Dahlby và Ferede (2013) nghiên cứu số liệu mảng các tỉnh của Canada chỉ ra quan hệ không có ý nghĩa thống kê; Oded Galor và Joseph Zeira (1992) phân tích vai trò phân phối của cải ban đầu trong điều kiện thị trường tín dụng chưa hoàn hảo; Forbes (2000) tổng kết năm yếu tố dẫn đến sự sai khác trong các kết quả thực nghiệm.
  • Về chính sách tái phân phối: Atkinson (1999, 2003), Addison và Cornia (2001), Bruno, Ravallion và Squire (1995), O. Binelli (2003), Attanasio và Binelli (2003), Ximing Wu, Jeffrey M. Perloff và Amos Golan (2005) phân tích các công cụ chính sách ngắn hạn (trợ cấp, bảo hiểm thất nghiệp) và dài hạn (đầu tư vốn nhân lực) nhằm giảm nghèo và điều tiết phân phối.

Tổng quan nghiên cứu trong nước được phân nhóm thành các nội dung:

  • Lý luận về phân phối và phân phối lại trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: Hội đồng Lý luận Trung ương (2008), Nguyễn Văn Luân và cộng sự (2008) khẳng định tính tất yếu của đa dạng hình thức phân phối và vai trò nền tảng của phân phối theo lao động; Phí Mạnh Hồng (2010, 2011) luận giải phân phối theo đóng góp nguồn lực, bình đẳng về cơ hội phát triển và đánh giá tương quan giữa sở hữu công và tư; Nguyễn Văn Trình (2009) phân tích nguyên tắc "cống hiến" và vai trò đủ của phân phối lại; Nguyễn Viết Thông, Đinh Quang Ty và Lê Minh Nghĩa (2016) chỉ rõ bất cập trong phân phối tiền lương, hiện tượng tham nhũng, lợi ích nhóm và hạn chế của an sinh xã hội.
  • Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo: Vũ Đình Bách (2008), Nguyễn Tấn Hưng (2017), Lê Văn Bửu (2013), Phạm Xuân Nam (2007) phân tích tính thống nhất biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Nguyễn Thị Tuệ Anh và Lê Xuân Bá (2005) nghiên cứu chất lượng tăng trưởng; Nguyễn Văn Công (2006), Hoàng Thủy Yến (2015) lượng hóa tác động ngưỡng của bất bình đẳng thu nhập tới tăng trưởng; Đỗ Phú Trần Tình (2010), Lê Quốc Hội (2009), Trần Quang Tuyến (2017) khảo sát mối liên hệ giữa tăng trưởng chi tiêu, bất bình đẳng và nghèo đói cấp xã; Nguyễn Hồng Nga (2015), Nguyễn Thanh Tuyền và cộng sự (2015), Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Vũ Văn Hiền và Nguyễn Viết Thông (2016) chỉ ra xu thế gia tăng bất bình đẳng qua hệ số GINI; Martin Evans và cộng sự (2006), các báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2014, Báo cáo Việt Nam 2035 năm 2016) và Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam phối hợp cùng UNDP (2006) phân tích bất bình đẳng cơ hội đối với các nhóm yếu thế.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định giải quyết gồm ba điểm:

  1. Xử lý phân phối thu nhập trong tiến trình tăng trưởng kinh tế dưới tác động của quá trình chuyển dịch sang kinh tế tri thức và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với nền kinh tế đang phát triển.
  2. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh hệ số GINI có xu hướng gia tăng, khoảng cách giàu nghèo mở rộng.
  3. Giải quyết vấn đề phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế tại phạm vi cụ thể của một địa phương cấp tỉnh như Phú Yên, khắc phục hạn chế của các công trình trước đây vốn chủ yếu nghiên cứu trên bình diện cả nước hoặc ở cấp tỉnh mới chỉ dừng lại ở vấn đề giảm nghèo mà chưa đi sâu vào bất bình đẳng và mối tương quan với tăng trưởng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế chính trị Mác - Lênin về các khâu của quá trình tái sản xuất xã hội (sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng), kết hợp lý thuyết kinh tế học hiện đại và kinh tế học phát triển về tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập. Tăng trưởng kinh tế được xem xét cả ở góc độ quy mô, tốc độ, ngắn hạn và dài hạn; gắn liền với yêu cầu chất lượng tăng trưởng và khái niệm tăng trưởng bao trùm của UNDP (dựa trên 3 trụ cột: việc làm có năng suất, cải thiện y tế/giáo dục, đổi mới bảo trợ xã hội; tránh 5 dạng tăng trưởng xấu: không lương tâm, không việc làm, không tiếng nói, không gốc rễ, không tương lai).

Các khái niệm và phạm trù phân tích bao gồm:

  • Khái niệm thu nhập, phân phối thu nhập lần đầu (dựa vào việc cung ứng các yếu tố sản xuất: lao động, vốn, đất đai, bí quyết công nghệ) và phân phối lại (thông qua thuế, chuyển giao thu nhập, trợ cấp, an sinh xã hội).
  • Khái niệm công bằng xã hội theo chiều ngang (đối xử như nhau với các cá nhân có hoàn cảnh và đóng góp như nhau) và công bằng xã hội theo chiều dọc (đối xử khác nhau đối với người có điều kiện và mức nỗ lực/năng suất khác nhau).
  • Chủ thể phân phối: người sở hữu yếu tố sản xuất, chủ doanh nghiệp, người lao động và Nhà nước; cùng các đối tượng tiếp nhận phân phối lại như hộ nghèo, gia đình chính sách, người yếu thế.

Hệ thống thước đo được luận án xây dựng và vận dụng bao gồm:

  • Thước đo tăng trưởng: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP), Tổng thu nhập quốc dân (GNI), Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP tính theo phương pháp sản xuất theo giá hiện hành và giá so sánh 2010), GRDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người một tháng (được chuyển đổi về giá so sánh năm 2010).
  • Thước đo nghèo đói: Tỷ số hộ nghèo $E = q/n$; khoảng cách thu nhập $g_i = z - M_i$ (với $z$ là ngưỡng nghèo, $M_i$ là thu nhập của hộ $i$); Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí thu nhập (chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn, 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị; chuẩn cận nghèo: 1.000.000 đồng ở nông thôn, 1.300.000 đồng ở thành thị) kết hợp 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) với 10 chỉ số thiếu hụt cụ thể.
  • Thước đo bất bình đẳng:
    • Khoảng độ $R = (M_n - M_1)/(n \cdot \mu)$, với $\mu$ là thu nhập trung bình của cộng đồng.
    • Hệ số chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nhóm nghèo nhất ($M_n/M_1$) chia theo 5 nhóm ngũ vị phân (N5/N1).
    • Tiêu chuẩn "40" của Ngân hàng Thế giới: tỷ trọng thu nhập của 40% dân cư có mức thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập (>17% là tương đối bình đẳng; 12% - 17% là bất bình đẳng vừa phải; <12% là bất bình đẳng cao).
    • Đường cong Lorenz biểu diễn trực quan mối tương quan giữa tỷ lệ phần trăm dân số cộng dồn (trục hoành) và tỷ lệ phần trăm thu nhập cộng dồn (trục tung), thỏa mãn nguyên tắc chuyển giao Pigou - Dalton.
    • Hệ số bất bình đẳng GINI đo lường tỷ số diện tích $A/(A+B)$ dựa trên đường cong Lorenz, tính toán theo công thức của Tổng cục Thống kê: $$G = 1 - \sum_{i=1}^{n} (F_i - F_{i-1})(Y_i + Y_{i-1})$$ (trong đó $F_i$ là tỷ lệ dân số cộng dồn đến người thứ $i$; $Y_i$ là tỷ lệ thu nhập cộng dồn đến người thứ $i$).

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và thống kê mô tả:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Kinh tế chính trị.
  • Các phương pháp cụ thể: Phương pháp so sánh - đối chiếu, phương pháp logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, trừu tượng hóa khoa học, nghiên cứu liên ngành.
  • Phương pháp điều tra khảo sát thu thập dữ liệu sơ cấp: Khảo sát bằng bảng hỏi đóng dành cho các nhà quản lý địa phương (lãnh đạo UBND các cấp, lãnh đạo các sở, ban, ngành) và các chuyên gia trên địa bàn tỉnh Phú Yên về vấn đề phân phối thu nhập, phân phối lại, tăng trưởng kinh tế, chênh lệch và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 2008-2018. Thời gian thực hiện từ tháng 8/2018 đến tháng 9/2018. Tổng số phiếu phát ra là 85 phiếu, số phiếu hợp lệ thu về là 80 phiếu (gồm 70/70 phiếu từ 70/120 xã, phường, thị trấn; và 10/15 phiếu từ UBND của 7/9 huyện, thị xã, thành phố, cơ quan cấp tỉnh và 03 Sở).
  • Dữ liệu thứ cấp: Niên giám thống kê tỉnh Phú Yên, Tổng cục Thống kê, Báo cáo điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam (VHLSS), số liệu từ Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, Báo cáo của Sở, Ban, Ngành và Nghị quyết của HĐND, UBND các cấp tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến phân phối thu nhập, tăng trưởng kinh tế và mối quan hệ giữa hai phạm trù này. Tác giả tổng thuật chi tiết các lý luận cổ điển (W. Petty, Quesnay, A. Smith, D. Ricardo) và các nghiên cứu thực nghiệm hiện đại về giả thuyết chữ U ngược của S. Kuznets cùng các quan điểm tranh luận đa chiều (quan hệ cùng chiều, ngược chiều, trung tính hoặc tác động ngưỡng). Đồng thời, chương này tổng kết thực tiễn nghiên cứu tại Việt Nam về mô hình phân phối trong thời kỳ đổi mới, phân tích việc thực hiện mục tiêu kép giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Từ việc nhận diện ba khoảng trống khoa học chính, chương 1 khẳng định tính cần thiết của việc triển khai đề tài tại địa bàn tỉnh Phú Yên.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế

Chương 2 trình bày khung lý thuyết toàn diện về tăng trưởng kinh tế (khái niệm, thước đo GDP, GNI, GRDP, các góc độ tiếp cận chi tiêu, thu nhập, sản xuất và chất lượng tăng trưởng kinh tế về mặt kinh tế, xã hội, môi trường) và phân phối thu nhập (khái niệm thu nhập, phân phối lần đầu, phân phối lại, công bằng xã hội chiều ngang/dọc, chủ thể phân phối). Tác giả làm rõ nội dung các thước đo nghèo đa chiều theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, các chỉ số bất bình đẳng thu nhập gồm khoảng độ R, tỷ số N5/N1, tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng Thế giới, đường cong Lorenz và hệ số GINI. Đồng thời, chương 2 khảo sát kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập tại 3 tỉnh lân cận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có điều kiện tương đồng:

  • Kinh nghiệm tỉnh Khánh Hòa
  • Kinh nghiệm tỉnh Bình Định
  • Kinh nghiệm tỉnh Ninh Thuận Từ đó, tác giả đúc kết các bài học kinh nghiệm về kết hợp hài hòa giữa chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tạo việc làm, an sinh xã hội và điều tiết thu nhập cho tỉnh Phú Yên.

Chương 3: Thực trạng phân phối thu nhập trong tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên

Chương 3 phân tích thực trạng kinh tế - xã hội tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020. Nội dung chương đánh giá các chủ trương, chính sách của Trung ương và của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Phú Yên tác động đến phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế.

Về tăng trưởng kinh tế, tác giả phân tích khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, tốc độ tăng trưởng GRDP và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa 3 khu vực (Nông - lâm - thủy sản, Công nghiệp - xây dựng, Dịch vụ) theo giá so sánh 2010.

Về phân phối thu nhập, chương 3 đo lường chi tiết thông qua chuỗi số liệu thực nghiệm:

  • Thu nhập bình quân đầu người một tháng (tính theo giá so sánh 2010).
  • Phân phối thu nhập theo 5 nhóm ngũ vị phân (N1 đến N5), tỷ trọng thu nhập và tốc độ tăng thu nhập của từng nhóm dân cư.
  • Phân phối thu nhập trong các doanh nghiệp phân theo huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giai đoạn 2012-2019.
  • Phân phối thu nhập giữa khu vực thành thị và nông thôn giai đoạn 2008-2020.
  • Phân phối thu nhập theo ngành/khu vực sản xuất, giới tính và theo nguồn thu nhập (tỷ trọng từ tiền lương/tiền công, sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp...).
  • Đo lường bất bình đẳng thu nhập qua hệ số GINI (bình quân 2008-2020 đạt 0,343 điểm), phân theo thành thị - nông thôn và phân theo ngành sản xuất.
  • Đánh giá theo tiêu chuẩn "40" của Ngân hàng Thế giới (tỷ trọng thu nhập của 40% dân số nghèo nhất), tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều và cơ cấu chi tiêu bình quân đầu người.

Dưới đây là bảng tổng hợp các chỉ số thực trạng kinh tế - xã hội và mẫu khảo sát của tỉnh Phú Yên được nêu trong luận án:

Chỉ tiêu kinh tế - xã hội và thông số nghiên cứu Giá trị ghi nhận Đơn vị tính / Ghi chú
Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2020 (giá so sánh 2010) 1.942 Ngàn đồng/tháng (bằng 76,22% cả nước)
Tỷ lệ dân số sống ở khu vực nông thôn và miền núi > 67,0 % dân số toàn tỉnh
Tỷ lệ hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi 24,0 % số hộ khu vực miền núi
Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều năm 2020 (giai đoạn 2016-2020) 2,96 % (tương ứng 7.756 hộ nghèo)
- Số hộ nghèo khu vực nông thôn 6.574 Hộ (chiếm 84,76% tổng số hộ nghèo)
- Số hộ nghèo khu vực thành thị 1.182 Hộ (chiếm 15,24% tổng số hộ nghèo)
Tỷ lệ hộ cận nghèo năm 2020 8,57 % (tương ứng 19.958 hộ cận nghèo)
- Số hộ cận nghèo khu vực nông thôn 15.122 Hộ (chiếm 75,77% tổng số hộ cận nghèo)
- Số hộ cận nghèo khu vực thành thị 4.836 Hộ (chiếm 24,23% tổng số hộ cận nghèo)
Chênh lệch thu nhập giữa nhóm cao nhất và thấp nhất (N5/N1) năm 2020 7,72 Lần
Hệ số bất bình đẳng thu nhập GINI bình quân giai đoạn 2008-2020 0,343 Điểm (thấp hơn bình quân cả nước 0,078)
Quy mô phiếu khảo sát sơ cấp phát ra (tháng 8 - 9/2018) 85 Phiếu
Tổng số phiếu khảo sát sơ cấp hợp lệ thu về 80 Phiếu
- Mẫu hợp lệ tại cấp xã, phường, thị trấn 70 / 70 Phiếu (tại 70/120 xã, phường, thị trấn)
- Mẫu hợp lệ tại UBND cấp huyện, tỉnh và các Sở 10 / 15 Phiếu (tại 7/9 huyện/thị/TP, tỉnh và 3 Sở)

Chương 3 chỉ ra rằng tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo tiền đề nâng cao mức sống chung và giảm tỷ lệ hộ nghèo, song cũng làm thay đổi cơ cấu phân chia thu nhập, khiến hệ số GINI có xu hướng gia tăng. Tác giả phân tích những kết quả đạt được, chỉ rõ các tồn tại hạn chế trong phân phối thu nhập và phân tích nguyên nhân khách quan, chủ quan (xuất phát điểm nền kinh tế thấp, chuyển dịch cơ cấu chậm, chính sách an sinh xã hội còn bất cập).

Chương 4: Quan điểm và giải pháp giải quyết vấn đề phân phối thu nhập trong tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Phú Yên trong những năm tới

Chương 4 phân tích bối cảnh phát triển mới tác động đến phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế tại địa phương. Trên cơ sở đó, tác giả xác định hệ thống quan điểm chung và quan điểm cụ thể về phân phối thu nhập gắn với phát triển kinh tế bền vững tỉnh Phú Yên. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp chia thành ba nhóm:

  • Nhóm giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Tạo lập môi trường kinh doanh, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, thu hút đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ.
  • Nhóm giải pháp về phân phối thu nhập theo hướng đảm bảo công bằng: Hoàn thiện chính sách tiền lương, tiền công trong các loại hình doanh nghiệp; phân phối theo kết quả đóng góp nguồn lực đầu vào; đảm bảo công bằng về cơ hội tiếp cận nguồn lực (đất đai, tín dụng, giáo dục, đào tạo nghề) giữa thành thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Nhóm giải pháp phân phối thu nhập nhằm giảm tình trạng bất bình đẳng thu nhập: Đổi mới chính sách tái phân phối, tăng cường hiệu quả chi ngân sách cho an sinh xã hội, thực hiện chương trình giảm nghèo đa chiều bền vững, mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ trực tiếp các nhóm dân cư yếu thế.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Bổ sung và góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Làm rõ các nhân tố chi phối mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế, phân tích các khía cạnh phân phối cơ hội phát triển và phân phối lại trong bối cảnh phát triển mới.

Về mặt thực tiễn:

  • Phân tích thực trạng phân phối thu nhập trong quá trình tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020 trên cơ sở hệ thống số liệu thứ cấp được quy đổi về giá so sánh 2010 kết hợp số liệu điều tra khảo sát sơ cấp.
  • Làm rõ mối quan hệ tương quan giữa tăng trưởng kinh tế, phân phối thu nhập và bất bình đẳng thu nhập thông qua chuỗi chỉ báo cụ thể (thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách thu nhập 5 nhóm ngũ vị phân, hệ số GINI, tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng Thế giới, tỷ lệ nghèo đa chiều và cơ cấu chi tiêu).
  • Chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại trong công tác phân phối thu nhập tại địa bàn tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020.
  • Đề xuất 3 nhóm quan điểm và giải pháp cụ thể (thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phân phối đảm bảo công bằng, phân phối giảm bất bình đẳng) nhằm xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập theo định hướng bền vững cho tỉnh Phú Yên trong những năm tới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế của luận án:

  • Về phạm vi dữ liệu sơ cấp: Khảo sát điều tra xã hội học bằng bảng hỏi đóng mới chỉ tiến hành thu thập ý kiến đánh giá cho giai đoạn 2008-2018 (thời điểm thực hiện khảo sát vào tháng 8 - 9/2018 với 80 phiếu hợp lệ), chưa bao quát bằng số liệu sơ cấp đến năm 2020 như chuỗi số liệu thống kê thứ cấp.
  • Về đối tượng khảo sát: Mẫu khảo sát sơ cấp tập trung vào cán bộ quản lý địa phương (lãnh đạo UBND cấp xã, huyện, tỉnh, các Sở) và chuyên gia (80 phiếu), chưa thực hiện điều tra diện rộng trực tiếp tới từng hộ gia đình, người lao động thuộc các nhóm dân cư đặc thù (khu vực nông thôn, miền núi, hộ dân tộc thiểu số).
  • Về phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Phú Yên, một số chỉ tiêu so sánh đối chiếu với các tỉnh lân cận và cả nước còn phụ thuộc vào mức độ sẵn có của các báo cáo điều tra mức sống hộ gia đình (VHLSS).

Về hướng nghiên cứu tiếp:

  • Cập nhật, mở rộng chuỗi dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trong giai đoạn sau năm 2020 để đánh giá tác động của các biến động kinh tế vĩ mô mới đối với phân phối thu nhập tại địa phương.
  • Mở rộng phạm vi điều tra vi mô trực tiếp đến các hộ gia đình nghèo, hộ cận nghèo, hộ dân tộc thiểu số tại khu vực miền núi nhằm lượng hóa chi tiết mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản và đánh giá bất bình đẳng về cơ hội phát triển.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cho các nhóm đối tượng và hoạt động chuyên môn sau:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách tại tỉnh Phú Yên (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Cục Thống kê): Cung cấp luận cứ khoa học và cơ sở dữ liệu thực chứng phục vụ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, chính sách điều tiết phân phối lại và an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
  • Đối với các nhà quản lý và nghiên cứu chính sách tại các địa phương lân cận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ (như Khánh Hòa, Bình Định, Ninh Thuận): Luận án là tài liệu tham khảo trong việc đối chiếu, so sánh mô hình tăng trưởng gắn với giải quyết công bằng xã hội giữa các tỉnh có xuất phát điểm và cơ cấu kinh tế tương đồng.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các trường đại học, học viện thuộc khối ngành Kinh tế, Kinh tế chính trị, Kinh tế phát triển: Luận án là tài liệu học tập, nghiên cứu về phương pháp luận kết hợp giữa lý luận kinh tế chính trị với hệ thống công cụ đo lường bất bình đẳng (hệ số GINI, đường cong Lorenz, tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng Thế giới, chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ nghèo đa chiều và cận nghèo của tỉnh Phú Yên năm 2020 được phân bổ giữa nông thôn và thành thị như thế nào? Theo số liệu trong luận án, năm 2020 tỉnh Phú Yên có tỷ lệ hộ nghèo đa chiều là 2,96% (tương ứng 7.756 hộ), trong đó khu vực nông thôn có 6.574 hộ nghèo (chiếm 84,76%), khu vực thành thị có 1.182 hộ nghèo (chiếm 15,24%). Tỷ lệ hộ cận nghèo chiếm 8,57% (tương ứng 19.958 hộ), trong đó khu vực nông thôn có 15.122 hộ cận nghèo (chiếm 75,77%), khu vực thành thị có 4.836 hộ cận nghèo (chiếm 24,23%).

2. Hệ số bất bình đẳng thu nhập GINI bình quân của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020 là bao nhiêu và chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất năm 2020 ra sao? Hệ số GINI bình quân của tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020 là 0,343 điểm, thấp hơn mức bình quân chung của cả nước cùng giai đoạn là 0,078 điểm, phản ánh phân phối thu nhập ở mức tương đối bình đẳng nhưng đang có xu hướng tăng lên. Khoảng cách chênh lệch thu nhập bình quân đầu người một tháng giữa nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm 5) và nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm 1) tại tỉnh Phú Yên năm 2020 là 7,72 lần.

3. Khảo sát dữ liệu sơ cấp của luận án được tiến hành với quy mô mẫu, đối tượng và thời gian cụ thể nào? Khảo sát sơ cấp được thực hiện bằng bảng hỏi đóng từ tháng 8/2018 đến tháng 9/2018 nhằm thu thập ý kiến về giai đoạn 2008-2018. Đối tượng khảo sát là các nhà quản lý địa phương (lãnh đạo UBND các cấp, lãnh đạo các sở, ban, ngành) và chuyên gia. Tổng số phiếu phát ra là 85 phiếu, số phiếu hợp lệ thu về là 80 phiếu; gồm 70/70 phiếu hợp lệ thu tại 70/120 xã, phường, thị trấn; và 10/15 phiếu hợp lệ thu tại UBND 7/9 huyện, thị xã, thành phố, cơ quan cấp tỉnh và 03 Sở.

4. Luận án vận dụng tiêu chuẩn "40" của Ngân hàng Thế giới để đánh giá bất bình đẳng thu nhập theo các ngưỡng nào? Luận án vận dụng tiêu chuẩn "40" của Ngân hàng Thế giới bằng cách xem xét tỷ trọng thu nhập của 40% dân cư có mức thu nhập thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư: nếu tỷ trọng này lớn hơn 17% thì phân phối thu nhập được coi là tương đối bình đẳng; nếu nằm trong khoảng từ 12% đến 17% thì bất bình đẳng ở mức vừa phải; nếu nhỏ hơn 12% tổng thu nhập thì xác định là bất bình đẳng cao.

5. Luận án đã nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn của những địa phương nào để rút ra bài học cho tỉnh Phú Yên? Trong Chương 2, luận án đã nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phân phối thu nhập của 3 tỉnh lân cận thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ gồm: tỉnh Khánh Hòa, tỉnh Bình Định và tỉnh Ninh Thuận; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm vận dụng vào điều kiện thực tế của tỉnh Phú Yên.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Võ Xuân Hội đã phân tích toàn diện mối quan hệ giữa phân phối thu nhập và tăng trưởng kinh tế tại tỉnh Phú Yên giai đoạn 2008-2020 dựa trên cơ sở lý luận của Kinh tế Chính trị và Kinh tế học phát triển. Bằng việc kết hợp nguồn dữ liệu thống kê thứ cấp theo giá so sánh 2010 với số liệu điều tra khảo sát sơ cấp, công trình đã làm rõ thực trạng thu nhập bình quân đầu người, mức độ chênh lệch giữa các nhóm ngũ vị phân, hệ số GINI, tiêu chuẩn 40% của Ngân hàng Thế giới và thực trạng nghèo tiếp cận đa chiều trên địa bàn tỉnh. Các kết quả nghiên cứu và ba nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án cung cấp luận cứ khoa học có giá trị thực tiễn cho công tác điều hành phát triển kinh tế - xã hội, điều tiết phân phối lại và đảm bảo an sinh xã hội bền vững tại tỉnh Phú Yên trong giai đoạn tiếp theo.