Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Lịch sử với đề tài "Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Tống Thị Nga, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Mạnh Hà và PGS.TS Lê Văn Thịnh, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2015), thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (mã số 62.01).
Về tính cấp thiết, phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) là nhiệm vụ chiến lược trong sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Sau khi tỉnh Phú Thọ được tái lập vào ngày 01/01/1997 (trên cơ sở chia tách tỉnh Vĩnh Phú), Đảng bộ tỉnh đã vận dụng các chủ trương của Trung ương vào điều kiện cụ thể của địa phương trung du - miền núi. Bên cạnh các kết quả đạt được về bảo đảm an ninh lương thực và nâng cao đời sống nhân dân, thực tiễn triển khai vẫn bộc lộ nhiều khó khăn và vấn đề cần điều chỉnh. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: chưa có công trình khoa học nào thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010 dưới góc độ Lịch sử Đảng; đưa ra nhận xét, đánh giá ưu điểm, hạn chế và đúc kết các kinh nghiệm chủ yếu.
Để thực hiện mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tập hợp và hệ thống hóa nguồn tư liệu liên quan đến đề tài.
- Phân tích, đánh giá các nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
- Trình bày và tái hiện có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ vận dụng đường lối của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn qua hai giai đoạn (1997–2005 và 2006–2010).
- Đánh giá những ưu điểm, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo và bước đầu đúc kết các kinh nghiệm chủ yếu từ thực tiễn địa phương giai đoạn 1997–2010.
Đối tượng nghiên cứu là chủ trương, giải pháp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ cùng quá trình chỉ đạo tổ chức thực hiện trên địa bàn tỉnh từ năm 1997 đến năm 2010.
Phạm vi nghiên cứu được xác định trên ba phương diện:
- Về nội dung: Tập trung vào 3 nội dung trọng tâm: chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông nghiệp, nông thôn; ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ (đặc biệt là công nghệ sinh học và cơ giới hóa) vào sản xuất và đời sống; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội gắn với củng cố, xây dựng quan hệ sản xuất (QHSX) ở nông thôn.
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Phú Thọ, có sự liên hệ, so sánh với một số tỉnh trong khu vực.
- Về thời gian: Từ năm 1997 (thời điểm tái lập tỉnh Phú Thọ và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV) đến năm 2010 (kết thúc thập niên đầu thế kỷ XXI và tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII). Luận án cũng khảo cứu giai đoạn trước năm 1997 ở mức độ cần thiết để làm rõ thực trạng xuất phát điểm.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm nội dung chính:
Nhóm 1: Các công trình về chủ trương, chính sách chung của Đảng và Nhà nước về CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhóm này gồm các sách chuyên khảo và công trình nghiên cứu tiêu biểu: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp thành tựu, vấn đề và triển vọng (Nguyễn Văn Bích chủ biên, 1994); Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam (Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang đồng chủ biên, 1996); Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hợp tác hóa, dân chủ hóa (Vũ Oanh, 1998); Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam (Trương Thị Tiến, 1999); Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và xu hướng phát triển kinh tế nông nghiệp Việt Nam... (Lê Quốc Sử, 2001); Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn Việt Nam (Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2002); Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ mới (Lê Quang Phi, 2007); Kinh nghiệm quốc tế về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa (Đặng Kim Sơn, 2008); Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn – Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc (Hội đồng Lý luận Trung ương và Nxb Chính trị Quốc gia, 2009); Đường lối phát triển kinh tế nông nghiệp của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986-2011) (Nguyễn Ngọc Hà, 2012); Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930-1975) (Vũ Quang Hiển chủ biên, 2013). Cùng với đó là các luận án tiến sĩ của Lê Văn Thái (2001), Lê Quang Phi (2003), Đặng Kim Oanh (2011); luận văn thạc sĩ của Lê Thị Thu Hương (2008), Bùi Thị Bích Thảo (2012); các bài báo tạp chí của Vũ Văn Phúc (1999), Bạch Đình Ninh (2001), Nguyễn Thiện Luân (2002), Hồ Văn Vĩnh (2008), Vũ Thị Thoa (2010), Nguyễn Thị Tố Quyên (2011), Nguyễn Văn Thông (2013), Đặng Kim Oanh (2013), Nguyễn Thành Lợi (2014).
Nhóm 2: Các công trình nghiên cứu về quá trình thực hiện chủ trương CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn tại các địa phương khác. Tiêu biểu là các luận án tiến sĩ của Tạ Văn Thới tại Ninh Bình (2000), Nguyễn Quang Vinh tại Thanh Hóa (2010), Nguyễn Thị Tố Uyên về vùng đồng bằng sông Hồng (2012), Vũ Quang Ánh (2012); các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Như Quỳnh tại Vĩnh Phúc (2013), Hoàng Thị Ánh Nga tại Hải Dương (2007), Nguyễn Thị Năm tại Hà Tây (2009), Bùi Thanh Xuân tại Nghệ An (2009), Lương Thị Hà tại huyện Yên Dũng, Bắc Giang (2012); các đề tài cấp Bộ do Bùi Thị Ngọc Lan (2007) và Nguyễn Thị Thơm (2007) chủ nhiệm; các bài viết trên Tạp chí Cộng sản, Nghiên cứu Kinh tế, Lịch sử Đảng của Trương Kim Sơn (2002), Đỗ Kim Chung (1999), Trần Văn Truyền (2002), Triều Hải Quỳnh (2003), Nguyễn Thế Anh (2013), Đàm Kiến Lập (2009), Đặng Kim Oanh (2011).
Nhóm 3: Các công trình và bài viết liên quan trực tiếp đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Phú Thọ. Gồm các bài nghiên cứu của Trương Văn Khôi (2002), Nguyễn Đình Tráng (2005), Nguyễn Ngọc Hải (2005), Nguyễn Hữu Điền (2005), Ngô Đức Vượng (2005, 2009), Trần Thị Thu Thủy (2005), Nguyễn Doãn Khánh (2009), Phạm Ngọc Thước (2009), Lưu Thế Vinh (2008, 2009), Mai Thị Thanh Xuân và Ngô Đăng Thành (2009), Nguyễn Hữu (2010), Nguyễn Quang Hậu (2011); đề tài khoa học cấp tỉnh của Trung tâm Giống Thủy sản tỉnh Phú Thọ (2006); luận văn thạc sĩ kinh tế của Lưu Thế Vinh (2008); luận văn thạc sĩ lịch sử của Chu Thị Thúy (2011) và Nguyễn Thị Yến về huyện Tam Nông (2013).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Tác giả chỉ rõ các công trình nghiên cứu tại Phú Thọ trước đây chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế học đơn thuần, chỉ nghiên cứu một giai đoạn ngắn, hoặc chỉ khảo sát phạm vi một huyện (như Tam Nông), chưa đi sâu phân tích hệ thống các nghị quyết, chỉ thị của Tỉnh ủy và chưa có công trình chuyên khảo nào thuộc mã số Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam nghiên cứu đầy đủ, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1997–2010. Luận án được triển khai để giải quyết khoảng trống lịch sử - thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về CNH, HĐH và phát triển nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới, cùng nguyên tắc phương pháp luận "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật".
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là:
- Phương pháp lịch sử: Tái hiện tiến trình lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ theo đúng trình tự thời gian, gắn với bối cảnh cụ thể của địa phương qua từng nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh (Đại hội XIV, XV, XVI, XVII).
- Phương pháp lôgíc: Phân tích, khái quát hóa bản chất của quá trình chỉ đạo, rút ra các quy luật biến đổi, ưu điểm, hạn chế và đúc kết các bài học kinh nghiệm.
Ngoài ra, luận án kết hợp các phương pháp bổ trợ như: phân tích - tổng hợp tư liệu, thống kê lịch sử, so sánh đối chiếu và khảo sát thực tế địa bàn.
Nguồn tài liệu phục vụ nghiên cứu bao gồm:
- Các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội và Chính phủ.
- Nguồn tài liệu gốc và lưu trữ: Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV, XV, XVI, XVII; các Nghị quyết chuyên đề, Chỉ thị, Kế hoạch của Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; các Quyết định, Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND tỉnh Phú Thọ, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ giai đoạn 1997–2010.
- Các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, luận án, luận văn và các sách lịch sử Đảng bộ địa phương đã xuất bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 hệ thống hóa và đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn theo ba nhóm công trình. Tác giả chỉ ra những khía cạnh lý luận và thực tiễn đã được làm sáng tỏ, đồng thời phân tích những nội dung mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn. Trên cơ sở đó, chương xác lập các vấn đề mà luận án đi sâu giải quyết, khẳng định tính độc lập và phạm vi nghiên cứu chuyên biệt của đề tài đối với lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ.
Chương 2: Chủ trương và sự chỉ đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ từ năm 1997 đến năm 2005
Chương 2 phân tích các nhân tố tác động, hệ thống chủ trương và quá trình chỉ đạo thực tế trong giai đoạn 1997–2005:
Nhân tố tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng trước năm 1997: Phú Thọ là tỉnh trung du, miền núi phía Bắc với 3 vùng địa hình rõ rệt: vùng núi cao phía Tây, Tây Bắc và Tây Nam (tiềm năng lâm nghiệp); vùng đồi gò bát úp xen kẽ đồng ruộng (thế mạnh kinh tế đồi rừng, cây công nghiệp dài ngày, chè, cây ăn quả); vùng đồng bằng nhỏ hẹp ven các sông lớn (Thao, Đà, Lô). Năm 1997, tỉnh có diện tích tự nhiên 349.x ha, dân số 1.178.x người (85,9% sống ở nông thôn), lực lượng lao động nông lâm thủy sản chiếm 78,47% (478,7 nghìn người). Hạ tầng nông thôn ban đầu còn nhiều thiếu thốn: 48,4% số xã chưa có điện, toàn tỉnh có 3 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm (Vinh Tiền, Xuân Sơn thuộc huyện Thanh Sơn và Trung Sơn thuộc huyện Yên Lập), mạng lưới điện thoại đạt 0,71 máy/100 dân (98/269 xã có điện thoại).
Bảng tổng hợp một số chỉ tiêu xuất phát điểm tỉnh Phú Thọ năm 1997:
| Chỉ tiêu thống kê |
Dữ liệu năm 1997 tại văn bản |
| Tỷ trọng dân số sống ở nông thôn |
85,9% |
| Tỷ lệ lao động nông, lâm nghiệp, thủy sản |
78,47% (478,7 nghìn người) |
| Tỷ lệ xã, phường có điện lưới |
51,6% (140/269 xã, phường) |
| Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng điện |
48,3% (khoảng 620 nghìn người) |
| Tỷ lệ số xã có điện thoại liên lạc |
36,43% (98/269 xã) |
| Xã chưa có đường giao thông đến trung tâm |
03 xã (Vinh Tiền, Xuân Sơn, Trung Sơn) |
Chủ trương và chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh giai đoạn 1997–2005:
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV (11/1997) đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân 1998–2000 đạt từ 10% trở lên, GDP bình quân đầu người đạt 290–300 USD; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng: công nghiệp - xây dựng 36,5%, dịch vụ 34,5%, nông lâm nghiệp 29%. Đại hội XV (12/2000) tiếp tục xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp gắn với thị trường và công nghiệp chế biến.
Tỉnh ủy và Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành hệ thống nghị quyết chuyên đề đồng bộ:
- Nghị quyết số 03-NQ/TU (15/4/1998) về phát triển vùng nguyên liệu giấy đến năm 2010.
- Nghị quyết số 05-NQ/TU (20/6/1998) về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đến năm 2010.
- Nghị quyết chuyên đề ngày 31/10/1998 về tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế trang trại đến năm 2000.
- Nghị quyết số 15-NQ/TU (27/3/1999) về đẩy mạnh công tác khuyến nông.
- Nghị quyết số 16-NQ/TU (05/5/1999) về mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch trồng mới 80.000 ha rừng giai đoạn 1999–2010.
- Nghị quyết số 12-NQ/TU (17/10/1997) và Nghị quyết số 09-NQ/TU (05/11/2001) về phát triển năng lượng điện lưới nông thôn.
- Nghị quyết số 02-NQ/TU (12/6/2001) về phát triển sản xuất lương thực giai đoạn 2001–2005.
- Nghị quyết số 13-NQ/TU (04/9/2002) về phát triển thủy lợi vùng đồi giai đoạn 2001–2010.
- Nghị quyết số 18-NQ/TU (17/6/2004) về tiếp tục dồn đổi ruộng đất nông nghiệp đến năm 2006.
- Quyết định số 3322/QĐ-UB (02/10/2002) của UBND tỉnh phê duyệt Đề án chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 2002–2005 và định hướng đến năm 2010.
Quá trình chỉ đạo tập trung vào việc bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi (mở rộng ngô lai, lúa lai F1, bưởi Đoan Hùng, chè, bò sữa HF, lợn xuất khẩu), ứng dụng công nghệ sinh học và nuôi cấy mô, dồn điền đổi thửa tạo vùng chuyên canh, đầu tư mở rộng đường giao thông nông thôn và kiên cố hóa kênh mương vùng đồi.
Chương 3: Lãnh đạo thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ năm 2006 đến năm 2010
Chương 3 tái hiện công tác lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế sâu rộng (gia nhập WTO) và triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Đảng bộ tỉnh qua Đại hội đại biểu lần thứ XVI và lần thứ XVII đã chỉ đạo đẩy mạnh thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn trên 3 nội dung:
- Chỉ đạo chuyển dịch CCKT nông nghiệp, nông thôn: Phát triển các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung quy mô lớn (vùng chè, vùng nguyên liệu gỗ giấy, cây ăn quả đặc sản, thủy sản đặc sản như ba ba); gia tăng tỷ trọng chăn nuôi và thủy sản; gắn sản xuất nguyên liệu với mạng lưới công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp tại các làng nghề nông thôn.
- Thực hiện cơ giới hóa, thủy lợi hóa và ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất: Mở rộng cơ giới hóa các khâu làm đất, thu hoạch, chế biến; tăng cường ứng dụng giống tiến bộ kỹ thuật (lúa lai, ngô lai, giống cây vô tính); hoàn thiện hệ thống thủy lợi phục vụ tưới tiêu chủ động cho cây công nghiệp và cây màu.
- Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và củng cố QHSX ở nông thôn: Đẩy mạnh nhựa hóa và bê tông hóa đường giao thông liên thôn, liên xã; nâng cấp mạng lưới điện hạ áp nông thôn; phát triển thông tin liên lạc; củng cố các hợp tác xã nông nghiệp theo luật định, hỗ trợ kinh tế trang trại và kinh tế hộ gia đình phát triển tự chủ.
Chương 4: Đánh giá chung và các kinh nghiệm chủ yếu
Chương 4 tổng kết thành tựu, hạn chế và đúc kết các bài học lịch sử:
Những ưu điểm:
- Nông nghiệp duy trì tốc độ phát triển ổn định, bảo đảm an ninh lương thực vững chắc;
- Cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa gắn với công nghiệp chế biến (chè, giấy, cây ăn quả);
- Kết cấu hạ tầng nông thôn (giao thông, điện lực, thủy lợi vùng đồi, bưu chính viễn thông) có bước phát triển rõ nét;
- Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nông thôn được cải thiện, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua các năm.
Một số hạn chế:
- Sản xuất nông nghiệp nhìn chung còn phân tán, quy mô nhỏ, chất lượng nông sản chưa đồng đều;
- Chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn còn chậm so với tốc độ chuyển dịch CCKT;
- Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật chưa đồng bộ giữa các vùng, năng suất lao động nông nghiệp chưa cao;
- Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn.
Một số kinh nghiệm chủ yếu:
- Một là, quán triệt sâu sắc các chủ trương của Trung ương, vận dụng sáng tạo vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và đặc thù địa hình trung du - miền núi của địa phương.
- Hai là, kết hợp chặt chẽ chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp với ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, quy hoạch vùng nguyên liệu tập trung gắn kết với các cơ sở chế biến công nghiệp và thị trường tiêu thụ.
- Ba là, phát huy nội lực, huy động đa dạng các nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn (đặc biệt là giao thông, điện và thủy lợi vùng đồi) đi đôi với củng cố, đổi mới quan hệ sản xuất phù hợp.
- Bốn là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của các cấp ủy Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy chính quyền cơ sở và vai trò của các tổ chức khuyến nông, khuyến lâm.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
- Về mặt khoa học lịch sử: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên thuộc chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam phục dựng một cách toàn diện, có hệ thống quá trình Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lãnh đạo thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ khi tái lập tỉnh (1997) đến năm 2010.
- Về mặt tư liệu: Luận án tập hợp, phân loại và hệ thống hóa nguồn tư liệu phong phú, chuẩn xác từ các văn kiện lưu trữ của Đảng bộ tỉnh, báo cáo của UBND tỉnh và các số liệu thống kê qua các mốc lịch sử.
- Về mặt thực tiễn: Đưa ra những đánh giá khách quan về ưu điểm, hạn chế và đúc kết 4 nhóm kinh nghiệm chủ yếu. Các kinh nghiệm này cung cấp cơ sở luận cứ khoa học hỗ trợ các cấp ủy Đảng, chính quyền tỉnh Phú Thọ trong việc hoạch định và điều chỉnh chính sách phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới ở các giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, do giới hạn phạm vi nghiên cứu của chuyên ngành Lịch sử Đảng, luận án chủ yếu tập trung phân tích tiến trình đường lối, chủ trương và sự chỉ đạo vĩ mô của Đảng bộ tỉnh trong khung thời gian 1997–2010, chưa đi sâu phân tích định lượng chi tiết các chỉ số kinh tế lượng phức tạp hay nghiên cứu vi mô tại từng hộ nông dân cá thể.
Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm:
- Tiếp tục nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với nông nghiệp, nông thôn trong giai đoạn sau năm 2010, đặc biệt là quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
- Nghiên cứu so sánh chuyên sâu giữa quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn ở Phú Thọ với các tỉnh khác trong vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng:
- Cán bộ nghiên cứu và học viên, nghiên cứu sinh: Cung cấp khung phân tích lịch sử và nguồn dữ liệu tin cậy về lịch sử kinh tế địa phương, lịch sử Đảng bộ tỉnh Phú Thọ và lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam thời kỳ đổi mới.
- Giảng viên các trường chính trị, cao đẳng, đại học: Làm tài liệu tham khảo giảng dạy môn Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Đường lối cách mạng của Đảng và môn học Lịch sử địa phương tỉnh Phú Thọ.
- Các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý cấp tỉnh/huyện: Cung cấp tư liệu thực tiễn và bài học kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu cây trồng đồi rừng, phát triển thủy lợi vùng đồi, dồn đổi ruộng đất và đào tạo nhân lực nông thôn.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế được Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV (11/1997) đề ra là gì?
Đại hội XIV xác định mục tiêu nhịp độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 1998–2000 đạt từ 10% trở lên; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 290–300 USD; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tỷ lệ: công nghiệp và xây dựng chiếm 36,5%, dịch vụ chiếm 34,5%, nông lâm nghiệp chiếm 29%.
2. Điểm xuất phát về hạ tầng giao thông và điện lưới nông thôn Phú Thọ năm 1997 có những đặc điểm gì?
Năm 1997, Phú Thọ có 140/269 xã, phường có điện (đạt tỷ lệ 51,6%), 48,3% dân số được dùng điện, mức tiêu thụ bình quân đạt 263 kWh/người/năm, trong khi có 48,4% số xã chưa có điện lưới. Về giao thông, mạng lưới đường nhựa còn ít, chất lượng đường tỉnh lộ và huyện lộ thấp, toàn tỉnh có 3 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã (gồm Vinh Tiền, Xuân Sơn thuộc huyện Thanh Sơn và Trung Sơn thuộc huyện Yên Lập).
3. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đã ban hành những nghị quyết chuyên đề nổi bật nào để lãnh đạo nông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1997–2005?
Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã ban hành: Nghị quyết 03-NQ/TU (15/4/1998) về phát triển vùng nguyên liệu giấy; Nghị quyết 05-NQ/TU (20/6/1998) về đào tạo nhân lực; Nghị quyết 15-NQ/TU (27/3/1999) về công tác khuyến nông; Nghị quyết 16-NQ/TU (05/5/1999) về trồng mới 80.000 ha rừng; Nghị quyết 12-NQ/TU (1997) và 09-NQ/TU (2001) về phát triển năng lượng điện lưới nông thôn; Nghị quyết 02-NQ/TU (2001) về sản xuất lương thực; Nghị quyết 13-NQ/TU (2002) về thủy lợi vùng đồi; Nghị quyết 18-NQ/TU (2004) về dồn đổi ruộng đất.
4. Khái niệm CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn được xác định gồm những nội dung cấu thành nào theo văn kiện được luận án trích dẫn?
Theo Nghị quyết 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) được luận án dẫn chiếu, CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn gồm hai quá trình gắn kết: CNH, HĐH nông nghiệp (chuyển dịch cơ cấu sang sản xuất hàng hóa lớn gắn với công nghiệp chế biến, áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ sinh học, cơ giới hóa, thủy lợi hóa) và CNH, HĐH nông thôn (tăng tỷ trọng giá trị công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, củng cố quan hệ sản xuất và nâng cao đời sống dân cư nông thôn).
5. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ yếu nào để làm rõ vai trò lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ?
Luận án sử dụng hai phương pháp chủ yếu của khoa học Lịch sử Đảng là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgíc, kết hợp với các kỹ thuật phân tích - tổng hợp tư liệu, thống kê lịch sử, so sánh đối chiếu và khảo sát thực tế địa bàn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Tống Thị Nga là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, làm sáng tỏ toàn bộ tiến trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Phú Thọ đối với sự nghiệp CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn từ năm 1997 đến năm 2010. Bằng nguồn tài liệu lưu trữ phong phú và phương pháp nghiên cứu lịch sử kết hợp lôgíc chặt chẽ, luận án đã tái hiện bức tranh chuyển dịch kinh tế - xã hội nông thôn vùng đất Tổ, phân tích sâu sắc các chính sách phát triển vùng đồi rừng, thủy lợi và cơ giới hóa nông nghiệp. Công trình không chỉ giải quyết một khoảng trống học thuật trong lịch sử Đảng bộ địa phương mà còn đúc kết các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý và phát triển nông thôn hiện nay.