CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Văn hóa và văn hóa truyền thống 1. Văn hóa a, Khái niệm Theo UNESCO, hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 định nghĩa về văn hoá điều đó cho thấy việc xây dựng một định nghĩa khoa học, đầy đủ về văn hoá là vô cùng khó khăn.
Từ những góc độ và những cơ sở lí giải khác nhau, mỗi nhà văn hoá học đều cố gắng đưa ra một định nghĩa khả dĩ. Để tìm hiểu mối quan hệ giữa văn hóa với giáo dục và thẩm mỹ, trước hết, chúng ta cần hiểu được khái niệm về văn hóa cũng như những chức năng của chúng. Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu định nghĩa của Hồ Chí Minh – một trong số những định nghĩa tương đối phổ biến đang được nhiều nhà văn hoá học chú ý: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá.
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn [ 57,tr. 431] Theo định nghĩa trên thì văn hoá bao gồm những yếu tố cơ bản sau: - Lí giải nguồn gốc của văn hoá là các phương thức hoạt động và giao tiếp của con người (tổ chức đời sống và xã hội). - Chỉ ra bản chất của văn hoá là cơ chế tổng hợp, phổ quát và là động lực để hình thành, phát triển xã hội và con người. Vì vậy, muốn đổi mới xã hội, đổi mới con người thì phải xây dựng một nền văn hoá mới.
9 Xác lập các yếu tố cấu thành văn hoá, gồm: - Các yếu tố vật chất: ăn, ở, mặc, ngôn ngữ, chữ viết; trong đó ngôn ngữ là công cụ tư duy và giao tiếp chỉ con người mới có. - Các yếu tố tinh thần: đạo đức, phát luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật; trong đó pháp luật, đạo đức là thể chế xã hội; văn học, nghệ thuật là hoạt động tinh thần. Khi bàn về khái niệm văn hóa, bên cạnh định nghĩa của Hồ Chí Minh nêu trên, một số định nghĩa cũng được nhiều nhà văn hóa học chú ý là định nghĩa của UNESCO, Ra – hát - ma Nê Ru và của Trần Ngọc Thêm. Theo UNESCO năm 1982: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống. Những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngưỡng; Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa làm chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ Văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vượt trội bản thân”.
Theo định nghĩa này có hai yếu tố quyết định văn hóa của một vùng đó là điều kiện tự nhiên như trời, đất (nảy sinh ra núi, sông, mưa, gió, bão lụt…) và điều kiện xã hội (mối quan hệ giữa con người với con người hoặc là chung sống hòa bình, hoặc là xâm lược để thôn tính lẫn nhau) Còn Trần Ngọc Thêm cũng cho cho rằng văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần, nó thể hiện trình độ của mỗi dân tộc trong quá trình lịch sử của mình. Đặc biệt, ông còn nhấn mạnh điểm thống nhất căn bản mang tính nhân loại khi nhận thức về văn hóa là tính sáng tạo, đó là cốt lõi của 10 văn hóa. Điểm khác biệt giữa các nền văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc là ở mức độ của tinh thần nhân văn của nền văn hóa ấy [46, tr. Bên cạnh đó, Ra - hát - ma Nê Ru lại đề cao văn hóa ở các giá trị tinh thần bao gồm các vấn đề về tư tưởng, đạo đức và lối sống của một cộng đồng dân tộc.
Trong đó, tư tưởng vừa là thước đo sự tiến bộ, vừa là tầm vóc của một thời đại, một dân tộc và một cá nhân nào đó. Ngay cả một tác phẩm nghệ thuật, nếu không có tư tưởng thì coi như cũng chẳng có gì cả, tất nhiên đó là tầng tư tưởng đã được hình tượng hóa, nằm ở chiều sâu của hình tượng. b) Các chức năng của văn hoá 1) Chức năng giáo dục: Văn hoá là những chuẩn mực xã hội, là những khuôn mẫu xã hội được tích luỹ trong quá trình lâu dài của mỗi cộng đồng dân tộc; nó được cố định hoá dưới dạng ngôn ngữ, biểu tượng, phong tục tập quán, nghi lễ, luật pháp, đạo đức. Tất cả những yếu tố trên cấu thành một nền văn hoá nhất định; nó có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, lối sống, nếp nghĩ, cách đối nhân xử thế.
của các thành viên trong cộng đồng. Xét về bản chất, văn hoá là nội dung của giáo dục và cũng là mục tiêu của giáo dục. Các quốc gia trên thế giới đều coi giáo dục là con đường cơ bản nhất để gìn giữ và phát triển văn hoá bởi phát triển văn hoá chính là động lực để phát triển xã hội. Với ý nghĩa ấy, UNESCO đã nêu ra 4 mục tiêu (nguyên lí) của nền giáo dục tương lai cho nhân loại là: - Học để biết.
- Học để chung sống. - Học để làm người, để tự khẳng định mình. Bốn mục tiêu trên đã bao hàm trong nó dường như đầy đủ các thuộc tính của văn hoá: tri thức, quan hệ, phát triển và hoàn thiện, ý thức về cái bản ngã. 11 Nhờ chức năng giáo dục của văn hoá mà con người có thể tồn tại, phát triển, hoàn thiện trong trạng thái cân bằng động với thiên nhiên và xã hội.
Đây là chức năng bao trùm nhất, cơ bản nhất và mang tính quyết định. 2) Chức năng chuyển giao giá trị văn hoá Văn hoá bao giờ cũng được hình thành trong một quá trình, được tích luỹ qua nhiều thế hệ, mang trong nó tính lịch sử, bồi đắp cho nó một bề dày, một chiều sâu nhất định. Thế nhưng, mỗi thế hệ, mỗi đời người đều là hữu hạn trong dòng chảy vô tận của lịch sử văn hoá, vậy làm cách nào để chuyển giao các giá trị văn hoá một cách có hiệu quả? Trong thực tế, mỗi thế hệ và mỗi đời người đều sống trong những thời đại cụ thể, những điều kiện lịch sử cụ thể trong hai mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ đồng đại: Chịu sự giáo dục, tác động, chi phối của văn hoá thời đại và quan hệ lịch đại: Tiếp thu, kế thừa, chọn lọc, phát triển những tinh hoa văn hoá trong lịch sử. Như vậy, mỗi thế hệ và mỗi con người đã vô tình hay có ý thức vừa sáng tạo, vừa chuyển giao các giá trị văn hoá.
Nói cách khác, con người vừa là sản phẩm của lịch sử văn hoá, vừa là chủ thể sáng tạo ra những giá trị văn hoá của thời đại. Có thể nói một cách tổng quát: Văn hoá là những giá trị đã ổn định và những giá trị đang hình thành, đó chính là chức năng chuyển giao giá trị văn hoá. 3) Chức năng kích thích sáng tạo văn hoá Quá trình thẩm thấu những giá trị văn hoá là quá trình mà con người nhận biết và được giáo dục bởi văn hoá, quá trình ấy giúp cho con người có những hiểu biết mới và những khát vọng mới. Tri thức và khát vọng gây hưng phấn cho con người, kích thích con người lao động và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp.
12 Văn hoá bao gồm một hệ thống các giá trị, vì vậy con người cũng được kích thích theo nhiều thang giá trị khác nhau, ở những lĩnh vực khác nhau, chẳng hạn: - Kích thích khát vọng chiếm lĩnh tri thức đỉnh cao - Kích thích khát vọng sáng tạo nghệ thuật (con người văn hoá - nghệ sĩ). - Kích thích khát vọng tạo lập quan hệ xã hội (văn hoá - xã hội). - Kích thích khát vọng khẳng định bản thân (văn hoá - bản ngã). Với chức năng này, văn hoá sẽ trở thành một động lực và một nguồn năng lượng vô tận giúp cho con người sống có ích và không ngừng phát triển, hoàn thiện.
4) Chức năng liên kết xã hội Cùng với tư cách là một giá trị, văn hoá còn đồng thời là những hình thái hoạt động đặc thù có chức năng liên kết xã hội rất hiệu quả, chẳng hạn: Lễ hội là nơi gặp gỡ, giao lưu rộng rãi của vùng, miền, quốc gia. Thông qua lễ hội, con người ngày càng xích lại gần nhau, đồng cảm với nhau trong cuộc sống hơn. Giỗ Tết cũng là nơi tụ họp gia đình, gia tộc và hàng xóm láng giềng; nó giúp cho con người có thể bỏ qua những bất hoà để tìm ra tiếng nói chung về huyết thống hoặc tình làng nghĩa xóm truyền thống. Phong tục tập quán giống như một chất keo gắn bó các thành viên trong cộng đồng với nhau, ở một mức độ nào đó nó còn có khả năng điều tiết hài hoà các mối quan hệ, góp phần tạo ra sự ổn định cho xã hội.
Tín ngưỡng cũng là một hình thái hoạt động góp phần giáo hoá con người rất có hiệu quả. Con người đến với tôn giáo để hướng thiện, phục thiện, hành thiện và đó chính là nhân tố có thể làm nên sức mạnh kì diệu tử vì đạo! Có thể nói, tất cả các hình thái hoạt động văn hoá lành mạnh đều có chức năng liên kết xã hội và cải tạo con người. 13 5) Chức năng thẩm mỹ Bi - ê - lin - xki, nhà tư tưởng lớn của nước Nga thế kỉ XIX từng khẳng định: “Cảm xúc về cái đẹp là một điều kiện làm nên phẩm giá con người. Phải có nó con người mới có được trí tuệ, phải có nó nhà bác học mới vươn tới những tư tưởng tầm cỡ thế giới, mới hiểu được bản chất và các hiện tượng trong tính thống nhất của chúng.