CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI BẰNG TÒA ÁN 1. Lý luận về tranh chấp đất đai 1. Khái niệm, đặc điểm về tranh chấp đất đai Khi hình thái kinh tế thay đổi theo hướng thị trường, cuộc sống sẽ đa dạng hơn và luôn tồn tại nhiều loại tranh chấp khác nhau, tùy theo lĩnh vực phát sinh mà nó có thể được gọi là tranh chấp dân sự, tranh chấp đất đai hay tranh chấp hành chính… Trong quan hệ quản lý nhà nước về đất đai có thể phát sinh tranh chấp đất đai, đó có thể là tranh chấp giữa cơ quan quản lý nhà nước về đất đai với người sử dụng đất hoặc có thể là tranh chấp giữa những người sử dụng đất với nhau. Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có ý kiến bất đồng thường là trong vấn đề quyền lợi giữa 2 bên 1.
Thuật ngữ tranh chấp đất đai đã được sử dụng theo Luật Đất đai năm 1987 (tại các điều luật: Điều 9, Điều 21, Điều 22), Luật Đất đai năm 1993 (Điều 38, Điều 40) nhưng chưa được giải thích chính thức, mà chủ yếu là chỉ được hiểu ngầm qua các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp đất đai và các tranh chấp khác có liên quan đến quyền sử dụng đất Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 26/11/2003, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 (thay thế Luật Đất đai năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001) lần đầu tiên, tại Khoản 26, Điều 4 đã định nghĩa: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Khái niệm này đã khiến nhiều người lúng túng, bởi đây là một khái niệm có nội hàm tương đối rộng và cũng không mấy rõ ràng. Theo khái niệm này, đối tượng 1 Hoàng Phê (2018), Từ điển Tiếng Việt, Hà Nội: Nxb Hồng Đức, tr.1297 8 tranh chấp trong tranh chấp đất đai là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Nhưng, đây là tranh chấp tổng thể các quyền và nghĩa vụ hay chỉ là tranh chấp từng quyền và nghĩa vụ “đơn lẻ” của người sử dụng đất do pháp luật đất đai quy định, hay bao gồm cả tranh chấp những quyền và nghĩa vụ mà người sử dụng đất có được khi tham gia vào các quan hệ pháp luật khác cho đến nay vẫn chưa được chính thức xác định.
Bên cạnh đó, chủ thể tranh chấp vốn được gọi là “hai hay nhiều bên” cũng không được định danh về loại chủ thể: Chỉ là người sử dụng đất hay tất cả các chủ thể có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quan hệ tranh chấp đất đai. Do đó có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa nêu trên như: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một (hoặc những) thửa đất nhất định…tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính”2. Tranh chấp đất đai là mọi tranh chấp phát sinh trong quan hệ đất đai bao gồm tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về tài sản gắn liền với đất, tranh chấp liên quan đến địa giới hành chính… Quan điểm này được nhiều cơ quan có thẩm quyền giải quyết chấp nhận, vì Điều 136 Luật Đất đai năm 2003. Tuy định nghĩa tranh chấp đất đai theo Luật Đất đai năm 2003 gây ra nhiều phức tạp trong cách hiểu và áp dụng pháp luật trên thực tế nhưng Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 lại tiếp tục giữ nguyên cách quy định như trên, chỉ có sự thay đổi về cách sử dụng thuật ngữ: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”.
Có thể nói, cách định nghĩa này không mang tính khoa học vì dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau về chủ thể, đối tương và mục đích giải quyết tranh chấp. Bên cạnh Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 có một số quy định khác liên quan đến nội hàm của khái niệm tranh chấp đất đai như Khoản 14, Điều 22 quy 2 Giáo trình Luật Đất đai,Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2012, tr. 9 định một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai là “Giải quyết tranh chấp về đất đai; Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai”; Điều 203 quy định Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai (có thể thuộc về TAND hoặc Ủy ban nhân dân…).
Theo các quy định này, có thể khẳng định, các chủ thể tham gia tranh chấp đất đai chỉ bao gồm những người sử dụng đất và như vậy, chúng tôi cho rằng, tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính không phải là loại tranh chấp đất đai được đề cập tại Khoản 26, Điều 4, Luật Đất đai năm 2003 cũng như Khoản 24, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013 vì những lý do sau đây: Về chủ thể tranh chấp đất đai theo Khoản 24, Điều 3 và Điều 203, Luật Đất đai năm 2013 phải là người sử dụng đất nhưng các chủ thể tranh chấp địa giới hành chính không phải là người sử dụng đất; thứ hai, đây không phải là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất mà là tranh chấp về phân định địa giới hành chính giữa các địa phương trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai; Mặt khác, luật Đất đai năm 2013 không sử dụng thuật ngữ “tranh chấp đất đai liên quan đến địa giới hành chính” như Luật Đất đai năm 2003 mà sử dụng thuật ngữ “tranh chấp địa giới hành chính”, việc sử dụng thuật ngữ này là hợp lý hơn. Vì vậy, luật mới không quy định thẩm quyền, thủ tục giải quyết tranh chấp địa giới hành chính trong Chương 13 về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai mà quy định ở Chương Địa giới hành chính và điều tra cơ bản về đất đai (Chương 3, Khoản 4, Điều 29). Trên thực tế, các tranh chấp đất đai nảy sinh thuộc các dạng chủ yếu sau đây: Một là, nhóm tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất. Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: Tranh chấp về ranh giới sử dụng đất (sử dụng đất); Tranh chấp về lối đi.
Hai là, nhóm tranh chấp liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất. Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất; Tranh chấp về tặng cho quyền sử dụng đất; Tranh chấp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Tranh chấp về cho thuê quyền sử dụng đất; Tranh chấp về thế chấp quyền sử dụng đất. 10 Ba là, nhóm tranh chấp liên quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: Tranh chấp về việc thu hồi đất sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế; Tranh chấp về việc thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Bốn là, nhóm tranh chấp liên quan đến giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: Tranh chấp về điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tranh chấp về đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tranh chấp về nghĩa vụ tài chính khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tranh chấp về diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất so với diện tích đất thực tế người dân đang sử dụng. Năm là, nhóm tranh chấp về tài sản gắn liền với đất. Các tranh chấp đất đai thuộc nhóm này bao gồm: Tranh chấp về chia tài sản chung là nhà, đất của vợ, chồng khi ly hôn; Tranh chấp về chia thừa kế nhà ở gắn liền với đất.
Nguyên nhân xảy ra tranh chấp đất đai Qua các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án, các báo cáo về giải quyết tranh chấp đất đai đai tại địa phương, cũng như qua phản ánh của các cơ quan truyền thông, những nguyên nhân chính dẫn đến tranh chấp đất ở Việt Nam gồm có: Trước đây trong việc quản lý đất đai, Nhà nước phân công, phân cấp cho quá nhiều ngành dẫn đến việc quản lý đất đai thiếu chặt chẽ, còn nhiều sơ hở. Có thời kỳ mỗi loại đất do một ngành quản lý. Có lúc chính quyền xã, hợp tác xã thậm chí cả trưởng thôn cũng có quyền cấp đất cho nông dân; các cơ quan, đơn vị quân đội cấp cho quân nhân làm nhà ở. Việc quản lý mục đích sử dụng đất không chặt chẽ dẫn đến việc sử dụng đất sai mục đích là điều thường xảy ra.
Để thống nhất quản lý đất đai trên lãnh thổ cả nước, Hội đồng Chính phủ đã thông qua Nghị định số 404/CP ngày 09/11/1979, thành lập Tổng cục Quản lý ruộng đất (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường). Tuy có nhiều cố gắng nhưng quản lý Nhà nước về đất đai vận hành không tích cực, hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện nên thiếu căn cứ pháp lý và thực tế để xác định quyền sử dụng ruộng đất của các chủ thể, không phản ánh được thực trạng sử dụng đất đai; quy hoạch đất đai chưa đi vào nề nếp. Việc quản lý 11 đất bị buông lỏng, đặc biệt là đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất đai bị bỏ hoang nhiều mặc cho người dân lấn chiếm. Ở nông thôn ranh giới đất làng thường không được phân định rõ ràng.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hết sức chậm chạp và qua nhiều công đoạn phức tạp mới thực hiện được. Việc chuyển nhượng, mua bán đất đai trái pháp luật không kiểm soát được. Chính sách, pháp Luật Đất đai và những chính sách có liên quan đến đất đai của chúng ta trong thời gian qua chưa nhất quán, đồng bộ. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cùng với sự tác động mặt trái của cơ chế thị trường đã làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong xã hội, trong khi đó chính sách, pháp luật về đất đai của chúng ta trong thời gian qua chưa đáp ứng đòi hỏi của xã hội, chưa đầy đủ để có thể quản lý hiệu quả đất đai.
Cán bộ, công chức thực hiện công vụ liên quan đến đất đai còn thiếu gương mẫu, tùy tiện, vi phạm chế độ quản lý và sử dụng đất đai.