MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chứng khoán là hàn thử biểu của nền kinh tế , chính vì vậy nó phản ánh rất nhanh nhạy yếu tố kinh tế trong chứng khoán, kinh tế có phát triển hay không ta chỉ cần nhìn vào thị trường chứng khoán là có thể hiểu được cơ bản sức mạnh của một nền kinh tế, có điều đó xảy ra là do tất cả các lĩnh vực từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dung, bán lẻ của các công ty mạnh và đứng đầu một đất nước đều sẽ niêm yết trên thị trường chứng khoán,vì vậy thị trường chứng khoán không chỉ phản ánh nền kinh tế mà nó phản ánh mức độ văn minh, hiện đại của nhân loại,từ lúc thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời từ năm 1998 và bắt đầu giao dịch từ năm 2000 với 2 mã chứng khoán với mức vốn hóa lúc đó đạt 986 tỷ đồng, thì đến nay sau 20 năm số lượng công ty niêm yết đã đạt trên 1000 mã chứng khoán, với mức vốn hóa thị trường hiện nay đạt khoảng 4 triệu tỷ đồng, chiếm 72% GDP của Việt Nam, điều đó cho thấy sự phát triển của thị trường, của kinh tế nước ta phản ánh qua thị trường chứng khoán. Trải qua 20 năm hình thành và phát triển thị trường chứng khoán cũng trải qua nhiều biến động và thăng trầm, như giai đoạn cao trào là từ năm 2000 đến 2007 đó là giai đoạn thịnh vượng của chứng khoán, khi ai tham gia cũng có lãi, còn bắt đầu từ năm 2008 khi khủng khoảng thế giới diễn ra từ việc nợ dưới chuẩn bất động sản tại mỹ, thì đã gây ra sự suy sụy dần của thị trường tài chính, và ở Việt Nam giai đoạn năm 2009-2010 là giao đoạn thoái trào của thị trường chứng khoán, khi tất cả các nhà đầu tư tham gia trên sàn đều thất bại và mất tiền, các công ty chứng khoán từ đó cũng trở lên suy yếu, do lượng khách giao dịch ít đi, nhiều công ty bé, không thể trụ vững đã dẫn đến giải thể, vậy thị trường chứng khoán có tính chu kỳ theo nền kinh tế, khi thị trường chứng khoán suy yếu, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến các công ty chứng khoán và dẫn đến thu nhập của môi giới chứng khoán cũng sẽ bị yếu đi nhiều, lúc này là lúc nhiều nhân viên cảm thấy khó khan, chán nản muốn bỏ nghề, vì áp lực doanh số đè nặng mà khách hàng lại không có, do vậy những lúc thị trường khó khăn thì các công ty lên có những chính sách để tác động , hỗ trợ các nhân viên của mình vượt qua những lúc khó khăn của thị 2 trường thời điểm đó, để đến lúc thuận lợi công ty đã có lượng nhân viên sẵn có làm việc, không cần phải tuyển dụng và đạo tạo lại. Hiện tại thị trường chứng khoán của chúng ta chưa khó khan như giai đoạn năm 2008-2009, nhưng thời điểm 2018-2019 nó cũng đã suy yếu với rất nhiều thăng trầm, đặc biệt trong năm 2018 chỉ số chứng khoán trong nước và quốc tế đều có những sự biến động mạnh mẽ mà đôi khi mọi người đã và đang nghĩ đẫ cận kề với khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế diễn ra, nó đều được tác động bởi nhiều sự biến động lớn từ thế giới và trong nước khiến cho tất cả giới đầu tư Việt Nam có được một năm cũng thăng trầm biến động không kém, trong đó hoạt động môi giới chứng khoán cũng vì thế mà bị ảnh hưởng, khi tất cả các mã đều ở ngưỡng cao, thị trường luôn dình dập mọi rủi ro khiến cho giới đầu tư lo ngại việc giải ngân, các hoạt động môi giới vì thế mà bị đình trệ, nhiều môi giới trẻ chưa có kinh nghiệm, cũng như chưa được huấn luyện bài bản đã không thể trụ được với nghề, kể cả các môi giới lâu năm cũng lo ngại việc tư vấn, nhiều môi giới tư vấn cho khách đã thất bại, khiến cho tâm trí rối loạn , lúc này áp lực công việc và cuộc sống đè nặng dẫn đến nhiều người sau một thời gian đã bị trầm cảm, tại công ty cổ phần chứng khoán MB – chi nhánh sở giao dịch, là đơn vị có tiếng trong lĩnh vực chứng khoán, luôn là đơn vị hàng đầu về thị phần của MBS, cũng đã xảy ra những câu chuyện chung của thị trường, nhiều lớp môi giới đã ra đi vì sự khốc liệt của chứng trường, tại đây vấn đề về lương, áp lực doanh số cho môi giới, chưa có chính sách hỗ trợ môi giới trong giai đoạn khó khăn, khiến cho cuộc sống của họ bấp bênh và khó trụ vững với nghề chính vì vậy lên việc chọn đề tài tạo động lực lao động cho môi giới giai đoạn này là cần thiết và nó cũng định hướng nguồn nhân lực môi giới cốt cán trong tương lai.
Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài Tạo động lực lao động tại doanh nghiệp là rất quan trọng, đề tài tạo động lực nghiên cứu trực tiếp các nguyên nhân, nhược điểm còn tồn tại của doanh nghiệp tư nhân và nhà nước, điều gì còn cản trở người lao động làm việc, làm sao để hạn chế những tồn tại đó, vì thế tạo động lực ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả làm việc của doanh nghiệp. Vì vậy, đây là vấn đề thu hút được sự quan tâm 3 nghiên cứu của rất nhiều tác giả .Vấn đề tạo động lực lao động cũng dành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về tạo động lực lao động. Trong số đó, có thể kể đến một số đề tài sau: - Đề tài “ Hoàn thiện công tác tạo động lực ở Công ty TNHH cửa sổ nhựa Châu Âu (Euro Window) ” của tác giả Đỗ Thị Thu, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2008.
Tác giả Đỗ Thị Thu đã đưa ra cơ sở lý luận vềcông tác tạo động lực lao động trong doanh nghiệp một cách khá đầy đủ. Tuy nhiên đề tài chưa đi sâu phân tích các chính sách đang thực hiện tại công ty, chưa làm rõ ảnh hưởng của các chính sách, chế độ đó đến công tác tạo động lực lao động tại công ty. Các giải pháp để tạo động lực lao động mà tác giả đề xuất chủ yếu còn mang tính khái quát - Đề tài thạc sĩ “ Tạo Động Lực Cho Lao Động Tại Công Ty Cổ Phần Sản Xuất Ô Việt “ của tác giả An Quang Thắng – Học viện Khoa Học Xã Hội, năm 2018. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực hiện công tác tạo động lực tại Công ty cổ phần sản xuất Ô Việt, luận văn đề xuất giải pháp thiết thực, khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực về tạo động lực lao động tại công ty cổ phần sản xuất Ô Việt, từ đó nhằm tìm ra giải pháp tăng cường động lực cho lao động tại công ty.
- Luận án Tiến sĩ “ Tạo Động Lực Cho Người Lao Động Tại Các Tập Đoàn Kinh Tế Nhà Nước Ở Việt Nam “ tác giả Phan Minh Đức - Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương năm 2018, tác giả đã làm rõ cơ sở lý thuyết về động lực và tạo động lực, trên cơ sở đó , đề tài tiến hành nghiên cứu thực trạng và đề xuất những biện pháp nâng cao chất lượng của công tác tạo động lực cho người lao động trong quản lý nguồn nhân lực tại các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam ở góc độ vi mô và vĩ mô. - Đề tài “Tạo động lực lao động tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3” của tác giả Võ Thị Hà Quyên - Trường Đại học Đà Nẵng nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác tạo động lực tại Công ty Cổ phần Dệt may 29/3. Tác giả đã đưa ra giải 4 pháp hoàn thiện tạo động lực lao động để đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu công việc hiện tại và mục tiêu phát triển lâu dài của công ty. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày giải pháp giúp tăng năng suất lao động đảm bảo chất lượng, tiến độ công việc, xây dựng đời sống tinh thần, nâng cao tinh thần học hỏi, phát triển bản thân cán bộ công nhân viên tại Công ty.Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam (2007): “ Nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động tại các KCN, KCX” do Ths.
Trương Thanh Cần làm chủ nhiệm. Đề tài đã phản ánh thực trạng đời sống văn hóa tinh thần của công nhân lao động trên các khía cạnh như nhận thức, ý thức tham gia các hoạt động văn hóa ở KCN. Những đề tài trên viết về tạo động lực của doanh nghiệp sản xuất và tập đoàn nhà nước, nhưng chưa có đề tài cụ thể nào nói về tạo động lực lao động cho nhân viên môi giới chứng khoán, vì đây là ngành nghề đặc trưng có đặc thù riêng của nó, vì vậy học viên đã quyết định chọn đề tài “ Tạo Động Lực Lao Động Tại Công Ty Cổ Phần Chứng Khoán MB – chi nhánh sở giao dịch” 3. Mục tiêu nghiên cứu Tìm hiều vấn đề về động lực lao động của các nhân viên môi giới cũng như chính sách tạo động lực lao động từ phía công ty, xem xét các tâm tư nguyện vọng của các bên để từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường động lực lao động cho nhân viên môi giới tại công ty cổ phần chứng khoán MB- chi nhánh sở giao dịch 4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: tạo động lực lao độngcho nhân viên môi giới chứng khoán tại công ty cổ phần chứng khoán MB – chi nhánh sở giao dịch - Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại Công ty Cổ phần chứng khoán MB – chi nhánh sở giao dịch Hà Nội( địa chỉ tầng 3 – tòa nhà MB – số 3 Liễu Giai – Ba Đình – Hà Nội - Việt Nam) - Phạm vi thời gian: Nghiên cứu trên cơ sở các dữ liệu trong khoảng thời gian 2016-2018 và đề xuất các giải pháp đến năm 2021. Phương pháp nghiên cứu - Lập bảng hỏi điều tra bằng phiếu khảo sát nhân viên môi giới, kết hợp phỏng vấn lãnh đạo của sở giao dịch lấy dữ liệu sơ cấp. - Quy mô khảo sát : toàn bộ 102 nhân viên môi giới công ty cổ phần chứng khoán MB – sở giao dịch tại thời điểm khảo sát là tháng 5/2019.