Chương 1. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2. Bối cảnh và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Kết quả nghiên cứu Chương 4.
Bàn luận và khuyến nghị 11 NỘI DUNG CHUONG 1. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về số hóa dữ liệu, số hóa quy trình và chuyén doi số Do sự phát triển và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đã tạo nên sự chuyển dịch căn bản trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ké từ đó, trong khoa học cũng như đời sống, xuất hiện các thuật ngữ mới mang tên: số hóa dữ liệu, số hóa quy trình, chuyển đổi số. Khi nghiên cứu về các nội dung này đã có nhiều quan điểm và cách và cách thức tiếp cận khác nhau, trên những khía cạnh, góc độ, phương diện khác nhau. Điều đó đã giúp cho chúng ta có thêm những căn cứ, luận điểm, minh chứng để nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn và toàn diện hơn về van dé đã và dang tác động mạnh mẽ trên mọi phương điện của đời sống và là xu thế phát triển tất yếu của thời đại * Số hóa dữ liệu: Số hóa dữ liệu là một quá trình xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Ba (đỉnh cao là vào năm 1960). Đây còn được xem là Cách mạng máy tính (hay cách mạng số).
Cuộc cách mạng này đã cho ra đời các dây chuyền sản xuất tự động hóa dựa trên máy tính, thiết bị điện tử và Internet. Cho đến nay, số hóa là một khái niệm phức tạp, được các nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu và đã có nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến vấn đề này: - Poter & Heppelmann, (2014) cho rằng: số hóa cũng bao gồm cách mà một người năm bắt các đặc điểm vật lý và chuyên đổi chúng thành các thuộc tinh ao. Số hóa tạo ra các sản phâm/thiết bị có khả năng lưu trữ, định vi, truyền tải thông tin/dữ liệu bao gồm như: vị trí, vận tốc, nhiệt độ, độ trung bình, độ rung động và các phép đo khác dưới dạng đữ liệu số hóa. Những dữ liệu này khi được kết hợp với các thuật toán nâng cao sẽ là nền tảng quan trọng dé tạo lập ra các sản pham/thiét bị (máy móc) thông minh hoạt động tự động như chúng ta đang có hiện nay.
- Số hóa còn được hiểu là một quá trình mà các công nghệ số, dịch vụ, sản phẩm, kĩ thuật và kỹ năng số đang được phô biến rộng khắp trong nền kinh tế và các doanh 12 nghiệp sử dụng các yếu tô nay (Brennen and Kreiss, 2014). Ở Việt Nam, các tổ chức và cá nhân cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận về nội hàm và bản chất của số hóa dữ liệu: - Theo FSI (doanh nghiệp chuyền đôi số hàng đầu Việt Nam) cho rằng: số hóa là một thuật ngữ dùng dé mô tả việc chuyên đổi các tài liệu dang vật lý (giấy) sang định dạng số. Bằng cách đó, doanh nghiệp cho phép đưa nội dung số vào quy trình làm việc của tổ chức. Chăng hạn như để tự động hóa các quy trình hoặc cung cấp cho mọi người quyên truy cập thông tin.
Số hóa dữ liệu là vấn đề luôn gắn liền với sự phát triển cuộc cách mang máy tính, công nghệ thông tin và Internet. Các tác giả đã phân tích nội dung, bản chất của nội hàm số hóa dữ liệu thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở các góc độ, phương diện khác nhau. Điều đó giúp cho chúng ta hiểu đúng, đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về số hóa đữ liệu. Cũng thông qua đó, giúp cho chúng ta có thể giải mã một cách chân thực về số hóa dit liệu - một vấn đề đã và đang tác động lớn đến sự phát triển của lĩnh vực du lịch nói chung và toàn xã hội hiện nay.
Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các quan điểm, cách tiếp cận về số hóa dữ liệu, chúng ta có thể hiểu về bản chất của van dé này ở một số khía cạnh căn bản sau: Một là, số hóa dit liệu là giai đoạn đầu tiên của chuyên đổi số, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn; đó là tiền đề, nền móng, là cơ sở dé các cá nhân, tô chức thực hiện các bước tiếp theo đó là số hóa quy trình và tiến tới là thực hiện chuyền đổi sé. Hai là, số hóa đữ liệu đã giúp con người lưu trữ thông tin với khối lượng không lồ, không giới hạn. Bên cạnh đó, nó còn giúp con người quản lý thông tin/dữ liệu một cách hiệu qua (con người dé dang sắp xếp, tổ chức, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện) Ba là, mặc dù số hóa dữ liệu là quá trình phức tạp đòi hỏi chuyên môn kĩ thuật, nhưng nó có thể được thuê ngoài hoặc quản lý bởi một nhóm tương đối nhỏ các chuyên gia và do đó nó tương đôi độc lập với các khía cạnh khác của tô chức. 13 * Số hóa quy trình (digitalization) Trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực du lịch nói riêng, sỐ hóa quy trình đã và đang đóng vai trò quan trọng, tạo nên nhiều giá trị và làm thay đôi căn bản mọi phương diện hoạt động, đặc biệt là trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng theo chiều hướng tích cực.
- Theo Dredge và cs, (2019) cho răng: Đối với doanh nghiệp số hóa quy trình đã tạo nên sự chuyền đôi trong hệ sinh thái doanh nghiệp, cung cấp các mô hình kinh doanh mới, các kênh thông tin mới về người tiêu dùng và cuối cùng là tăng trưởng kinh tế. Còn đối với người tiêu dùng, ta thấy có sự gia tăng trong việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số vào việc tạo lập kế hoạch, đăng ký sử dụng các dịch vụ và tác động tới những người tiêu dùng khác. - Harry Bouwman & cs (2018) cũng có cùng quan điểm nêu trên của Dredge & cs, tác gia nhân mạnh đến việc số hóa quy trình có tác động tới việc làm đổi mới mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc đổi mới mô hình kinh doanh sẽ tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh vì nó tạo cơ hội dé các công ty/doanh nghiệp phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.
- Còn theo Loo (2017) tiếp cận vấn đề số hóa quy trình trên cả hai phương diện (tích cực và tiêu cực) đối với doanh nghiệp: + Số hóa quy trình tác động tới mô hình kinh doanh của các công ty bang cách tạo ra các hình thức hợp tác mới khác nhau giữa các công ty, dẫn đến sự ra đời của các sản phẩm - dịch vụ mới và các mối quan hệ mới được tạo lập giữa công ty với khách hàng và nhân viên. + $ố hóa quy trình cũng gây nên áp lực cho các công ty khi đặt ra yêu cầu phải thay đổi về chiến lược hiện tại của doanh nghiệp va tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới một cách có hệ thống dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin. - Brynjolfsson & McAfee, (2014) có cách tiếp cận mang tinh chất tong quan về số hóa quy trình. Tác giả cho rằng số hóa quy trình là quá trình công nghệ xã hội, tận dụng các sản phẩm hoặc hệ thống được số hóa dé phát triển các quy trình tô chức, mô hình kinh doanh hoặc dịch vụ thương mại.
14 Như vậy, số hóa quy trình (số hóa tổ chức hay số hóa doanh nghiệp) được xem như là một bước tiến của số hóa; là cấp độ dùng các công nghệ số và dữ liệu đã được số hóa trước đó và sử dụng nó dé tối ưu hóa hoạt động kinh doanh. Từ đó, đạt được các mục tiêu như tăng doanh thu của doanh nghiệp hoặc nâng cao hiệu quả của các quy trình. Trên thực tế, các thuật ngữ “số hóa” và “số hóa quy trình” thường được sử dụng thay thế cho nhau; tuy nhiên, có những điểm khác biệt quan trọng về khái niệm. Trong khi số hóa mô tả một công nghệ hoặc hệ thống công nghệ liên quan đến những khả năng của nó, số hóa quy trình trả lời tại sao công nghệ này có liên quan đến một quy trình hoặc tổ chức cụ thể.
* Chuyển đối số (Digital Transformation) Rogers (1962) đã đề xuất Lý thuyết khuếch tán đổi mới, cho đến nay đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có du lịch. Lý thuyết này phác họa việc làm thế nào đề công nghệ mới và tiến bộ mới lan rộng khắp xã hội (từ việc giới giới thiệu đến chấp nhận sử dụng công nghệ). Vial (2021) đã chỉ ra bản chất của chuyền đổi số là quá trình văn hóa xã hội của các công ty với các hình thức tổ chức mới và kỹ năng cần thiết dé duy trì và phát triển trong bối cảnh kỹ thuật số. Vì thế, chuyên đổi số có thể được mô tả là một quá trình nhằm cải thiện một thực tế bằng cách tao ra những thay đôi đáng kể đối với các thuộc tinh của tổ chức thông qua sự kết hợp của các công nghệ thông tin, máy tính, giao tiếp và kết nối.
Theo Fitzgerald & cs (2013) và Westerman & cs (2011), chuyên đổi số là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số như: phương tiện truyền thông xã hội, thiết bị di động hoặc thiết bị nhúng, để cho phép cải tiến kinh doanh như: nâng cao trải nghiệm của khách hàng, hợp lý hóa hoạt động hoặc tạo lập mô hình kinh doanh mới. Như vậy, “chuyển đổi số vượt ra ngoài việc chỉ số hóa tài nguyên nhằm mục dich tạo ra giả trị và doanh thu nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật số” (McDonald and Rowsell, 2012). Điều đặc biệt, (Solis & cs, 2014) còn cho rằng chuyền đổi số thu hút khách hàng kỹ thuật số hiệu quả hơn mọi điểm tiếp xúc trong vòng đời trải nghiệm của 15 khách hàng. Sommarberg & Makinen (2019) khăng định, chuyên đổi số trong doanh nghiệp là một quá trình lần lượt với các bước số hóa thông tin (chuyên tất cả thông tin sang dạng số), số hóa tổ chức (sử dụng công nghệ số dựa trên thông tin đã được số hóa vào các khâu trong chuỗi giá trị doanh nghiệp) và chuyển đổi số (thay đôi toàn diện từ tư duy lãnh đạo, văn hóa, mô hình hoạt động, mô hình kinh doanh, .) nhằm hướng đến gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Cách mạng công nghiệp 4.0 là nhân tố quan trọng thúc đây chuyển đổi số của các doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung nhằm hướng đến nền kinh tế số (Schwab & Davis, 2018).