CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về số hóa dữ liệu, số hóa quy trình và chuyển đổi số Do sự phát triển và tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Tư đã tạo nên sự chuyển dịch căn bản trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Kể từ đó, trong khoa học cũng như đời sống, xuất hiện các thuật ngữ mới mang tên: số hóa dữ liệu, số hóa quy trình, chuyển đổi số. Khi nghiên cứu về các nội dung này đã có nhiều quan điểm và cách và cách thức tiếp cận khác nhau, trên những khía cạnh, góc độ, phương diện khác nhau. Điều đó đã giúp cho chúng ta có thêm những căn cứ, luận điểm, minh chứng để nhận thức một cách đầy đủ, đúng đắn và toàn diện hơn về vấn đề đã và đang tác động mạnh mẽ trên mọi phương diện của đời sống và là xu thế phát triển tất yếu của thời đại * Số hóa dữ liệu: Số hóa dữ liệu là một quá trình xuất hiện cùng với sự ra đời và phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ Ba (đỉnh cao là vào năm 1960). Đây còn được xem là Cách mạng máy tính (hay cách mạng số).
Cuộc cách mạng này đã cho ra đời các dây chuyền sản xuất tự động hóa dựa trên máy tính, thiết bị điện tử và Internet. Cho đến nay, số hóa là một khái niệm phức tạp, được các nhà khoa học tiếp cận, nghiên cứu và đã có nhiều quan điểm khác nhau khi đề cập đến vấn đề này: - Poter & Heppelmann, (2014) cho rằng: số hóa cũng bao gồm cách mà một người nắm bắt các đặc điểm vật lý và chuyển đổi chúng thành các thuộc tính ảo. Số hóa tạo ra các sản phẩm/thiết bị có khả năng lưu trữ, định vị, truyền tải thông tin/dữ liệu bao gồm như: vị trí, vận tốc, nhiệt độ, độ trung bình, độ rung động và các phép đo khác dưới dạng dữ liệu số hóa. Những dữ liệu này khi được kết hợp với các thuật toán nâng cao sẽ là nền tảng quan trọng để tạo lập ra các sản phẩm/thiết bị (máy móc) thông minh hoạt động tự động như chúng ta đang có hiện nay.
- Số hóa còn được hiểu là một quá trình mà các công nghệ số, dịch vụ, sản phẩm, kĩ thuật và kỹ năng số đang được phổ biến rộng khắp trong nền kinh tế và các doanh 12 nghiệp sử dụng các yếu tố này (Brennen and Kreiss, 2014). Ở Việt Nam, các tổ chức và cá nhân cũng đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau khi tiếp cận về nội hàm và bản chất của số hóa dữ liệu: - Theo FSI (doanh nghiệp chuyển đổi số hàng đầu Việt Nam) cho rằng: số hóa là một thuật ngữ dùng để mô tả việc chuyển đổi các tài liệu dạng vật lý (giấy) sang định dạng số. Bằng cách đó, doanh nghiệp cho phép đưa nội dung số vào quy trình làm việc của tổ chức. Chẳng hạn như để tự động hóa các quy trình hoặc cung cấp cho mọi người quyền truy cập thông tin.
Số hóa dữ liệu là vấn đề luôn gắn liền với sự phát triển cuộc cách mạng máy tính, công nghệ thông tin và Internet. Các tác giả đã phân tích nội dung, bản chất của nội hàm số hóa dữ liệu thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau, ở các góc độ, phương diện khác nhau. Điều đó giúp cho chúng ta hiểu đúng, đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về số hóa dữ liệu. Cũng thông qua đó, giúp cho chúng ta có thể giải mã một cách chân thực về số hóa dữ liệu - một vấn đề đã và đang tác động lớn đến sự phát triển của lĩnh vực du lịch nói chung và toàn xã hội hiện nay.
Thông qua việc nghiên cứu, tìm hiểu các quan điểm, cách tiếp cận về số hóa dữ liệu, chúng ta có thể hiểu về bản chất của vấn đề này ở một số khía cạnh căn bản sau: Một là, số hóa dữ liệu là giai đoạn đầu tiên của chuyển đổi số, nhưng lại có ý nghĩa rất to lớn; đó là tiền đề, nền móng, là cơ sở để các cá nhân, tổ chức thực hiện các bước tiếp theo đó là số hóa quy trình và tiến tới là thực hiện chuyển đổi số. Hai là, số hóa dữ liệu đã giúp con người lưu trữ thông tin với khối lượng khổng lồ, không giới hạn. Bên cạnh đó, nó còn giúp con người quản lý thông tin/dữ liệu một cách hiệu quả (con người dễ dàng sắp xếp, tổ chức, tìm kiếm thông tin một cách dễ dàng, nhanh chóng, thuận tiện) Ba là, mặc dù số hóa dữ liệu là quá trình phức tạp đòi hỏi chuyên môn kĩ thuật, nhưng nó có thể được thuê ngoài hoặc quản lý bởi một nhóm tương đối nhỏ các chuyên gia và do đó nó tương đối độc lập với các khía cạnh khác của tổ chức. 13 * Số hóa quy trình (digitalization) Trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội nói chung và lĩnh vực du lịch nói riêng, số hóa quy trình đã và đang đóng vai trò quan trọng, tạo nên nhiều giá trị và làm thay đổi căn bản mọi phương diện hoạt động, đặc biệt là trong sản xuất kinh doanh và tiêu dùng theo chiều hướng tích cực.
- Theo Dredge và cs, (2019) cho rằng: Đối với doanh nghiệp số hóa quy trình đã tạo nên sự chuyển đổi trong hệ sinh thái doanh nghiệp, cung cấp các mô hình kinh doanh mới, các kênh thông tin mới về người tiêu dùng và cuối cùng là tăng trưởng kinh tế. Còn đối với người tiêu dùng, ta thấy có sự gia tăng trong việc sử dụng các nền tảng kỹ thuật số vào việc tạo lập kế hoạch, đăng ký sử dụng các dịch vụ và tác động tới những người tiêu dùng khác. - Harry Bouwman & cs (2018) cũng có cùng quan điểm nêu trên của Dredge & cs, tác giả nhấn mạnh đến việc số hóa quy trình có tác động tới việc làm đổi mới mô hình kinh doanh của doanh nghiệp. Từ việc đổi mới mô hình kinh doanh sẽ tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh vì nó tạo cơ hội để các công ty/doanh nghiệp phát triển lợi thế cạnh tranh của mình.
- Còn theo Loo (2017) tiếp cận vấn đề số hóa quy trình trên cả hai phương diện (tích cực và tiêu cực) đối với doanh nghiệp: + Số hóa quy trình tác động tới mô hình kinh doanh của các công ty bằng cách tạo ra các hình thức hợp tác mới khác nhau giữa các công ty, dẫn đến sự ra đời của các sản phẩm - dịch vụ mới và các mối quan hệ mới được tạo lập giữa công ty với khách hàng và nhân viên. + Số hóa quy trình cũng gây nên áp lực cho các công ty khi đặt ra yêu cầu phải thay đổi về chiến lược hiện tại của doanh nghiệp và tìm kiếm các cơ hội kinh doanh mới một cách có hệ thống dựa trên ứng dụng công nghệ thông tin. - Brynjolfsson & McAfee, (2014) có cách tiếp cận mang tính chất tổng quan về số hóa quy trình. Tác giả cho rằng số hóa quy trình là quá trình công nghệ xã hội, tận dụng các sản phẩm hoặc hệ thống được số hóa để phát triển các quy trình tổ chức, mô hình kinh doanh hoặc dịch vụ thương mại.
14 Như vậy, số hóa quy trình (số hóa tổ chức hay số hóa doanh nghiệp) được xem như là một bước tiến của số hóa; là cấp độ dùng các công nghệ số và dữ liệu đã được số hóa trước đó và sử dụng nó để tối ưu hóa hoạt động kinh doanh. Từ đó, đạt được các mục tiêu như tăng doanh thu của doanh nghiệp hoặc nâng cao hiệu quả của các quy trình. Trên thực tế, các thuật ngữ “số hóa” và “số hóa quy trình” thường được sử dụng thay thế cho nhau; tuy nhiên, có những điểm khác biệt quan trọng về khái niệm. Trong khi số hóa mô tả một công nghệ hoặc hệ thống công nghệ liên quan đến những khả năng của nó, số hóa quy trình trả lời tại sao công nghệ này có liên quan đến một quy trình hoặc tổ chức cụ thể.
* Chuyển đổi số (Digital Transformation) Rogers (1962) đã đề xuất Lý thuyết khuếch tán đổi mới, cho đến nay đã được áp dụng rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, trong đó có du lịch. Lý thuyết này phác họa việc làm thế nào để công nghệ mới và tiến bộ mới lan rộng khắp xã hội (từ việc giới giới thiệu đến chấp nhận sử dụng công nghệ). Vial (2021) đã chỉ ra bản chất của chuyển đổi số là quá trình văn hóa xã hội của các công ty với các hình thức tổ chức mới và kỹ năng cần thiết để duy trì và phát triển trong bối cảnh kỹ thuật số. Vì thế, chuyển đổi số có thể được mô tả là một quá trình nhằm cải thiện một thực tế bằng cách tạo ra những thay đổi đáng kể đối với các thuộc tính của tổ chức thông qua sự kết hợp của các công nghệ thông tin, máy tính, giao tiếp và kết nối.
Theo Fitzgerald & cs (2013) và Westerman & cs (2011), chuyển đổi số là việc sử dụng các công nghệ kỹ thuật số như: phương tiện truyền thông xã hội, thiết bị di động hoặc thiết bị nhúng, để cho phép cải tiến kinh doanh như: nâng cao trải nghiệm của khách hàng, hợp lý hóa hoạt động hoặc tạo lập mô hình kinh doanh mới. Như vậy, “chuyển đổi số vượt ra ngoài việc chỉ số hóa tài nguyên nhằm mục đích tạo ra giá trị và doanh thu nhờ sự hỗ trợ của kỹ thuật số” (McDonald and Rowsell, 2012). Điều đặc biệt, (Solis & cs, 2014) còn cho rằng chuyển đổi số thu hút khách hàng kỹ thuật số hiệu quả hơn mọi điểm tiếp xúc trong vòng đời trải nghiệm của 15 khách hàng. Sommarberg & Makinen (2019) khẳng định, chuyển đổi số trong doanh nghiệp là một quá trình lần lượt với các bước số hóa thông tin (chuyển tất cả thông tin sang dạng số), số hóa tổ chức (sử dụng công nghệ số dựa trên thông tin đã được số hóa vào các khâu trong chuỗi giá trị doanh nghiệp) và chuyển đổi số (thay đổi toàn diện từ tư duy lãnh đạo, văn hóa, mô hình hoạt động, mô hình kinh doanh, .) nhằm hướng đến gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Cách mạng công nghiệp 4.0 là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số của các doanh nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung nhằm hướng đến nền kinh tế số (Schwab & Davis, 2018).