CHƯƠNG 1: HEMINGWAY- THỜI ĐẠI - CON NGƯỜI - TÁC PHẨM 1.NHỮNG BIẾN CỐ TƯ TƯỞNG TRONG VĂN HỌC MĨ THỂ KỶ XX Chưa lúc nào thế giới lại biến động mãnh liệt, nhanh chóng như ở thế kỉ này. Trên khắp mọi lĩnh vực, từ triết học, kinh tế, khoa học kĩ thuật đều có sự đổi thay đến chóng mặt. Chỉ tính riêng về số lần chiến tranh có tầm cỡ thế giới, phải hơn hai mươi thế kỉ mới có ba cuộc chiến tranh, trong khi ấy chưa đầy ba mươi năm đã xảy ra hai cuộc chiến tranh thế giới khủng khiếp mà trong đó có người Mĩ tham gia. Cùng với những thảm họa đang giáng xuống con người, nhiều hệ thống triết học ra đời nhằm thay thế nến tảng luân lí cũ, cứu nhân loai khỏi thảm họa diệt vong.
Nổi bật với thuyết siêu hình của Fr. Nietzsche, thuyết trực giác của Bergson, thuyết hiện sinh của J.p Sartre và duy vật biện chứng của Marx -Engels. Gắn với các triết thuyết ấy là những trào lưu văn học nở rộ, dù có chiu ảnh hưởng trực tiếp hay không cũng đã minh chứng cho các luận thuyết trên. Có thể kể trường phái đa đa, siêu thực, tượng trưng và Tiểu thuyết mới.
Những trường phái ấy không chỉ biểu hiện cho vô số những tiếng nói khác nhau, mà còn bộc lộ sự "đoản mệnh". Vừa xuất hiện chúng liền biến tướng chuyển ngay sang hình thức của trường phái khác. Hoặc ngay chính trong bản thân một nhà văn, chuyển di từ chủ nghĩa này sang chủ nghĩa kia là hiện tượng phổ biến của thế kỷ XX. Điểu ấy đã bộc lộ tính chất bất thường của thời đại.
Trước thực tế phũ phàng, đối với nhiều người Mĩ, niềm hi vọng về một sự tiến hoa của châu Âu và thế giới thế kỷ XX đã biến mất. Trên thực tế "Sự thay đổi đó không khác gì bước lùi từ mùa xuân trở lại mùa đông". Mark Twain trong tác phẩm của mình đã xác nhận rằng: "Đời là hoàn toàn xâu xa", cũng như với John Gray "Mọi việc đều chứng tỏ đời là trò đùa", nhất là với những con người mà tâm hồn bị "tàn phế", họ chỉ còn biết trú ẩn trong "tháp ngà" của riêng mình. Chiến tranh đã dạy cho người Mĩ hiểu thế nào là bạo lực, sức mạnh, sự mong manh của kiếp người.
Một tinh thần chối bỏ thực tại để thoát khỏi những ám ảnh đã xâm nhập vào đời sống văn học, cả trong tác phẩm lẫn trong cuộc đời nhà văn. Một số người như Gertrude Stein, Eliot, Pounđ cùng một số môn đệ của họ sang châu Âu, tản mát khắp các nơi, nhưng tụ họp đông nhất ở Paris, nơi đang thịnh hành một đời sống văn học thích hợp với họ. Họ coi nước Mĩ là một nước xa lạ và phải nhiều năm sau họ mới có thể thích ứng trở lại với đời sống Mĩ. Ngay ở tại quê hương của mình, một số nhà văn đã tự nguyện cô lập mình như Greenvvich Village, họ đã hình thành một xã hội riêng biệt, đối lập quyết liệt với lối sống Mĩ.
Tuy vậy, những chao đảo trong tư tưởng của các nhà văn không tồn tại lâu. Theo Hemingway thì trong thời buổi này, con người đã phải quen với những thực tế phũ phàng, những cuộc vật lộn đầy máu lửa trong chiến tranh không dễ gì làm cho con người ta dễ bị xúc phạm hơn là cứ giữ mãi tâm hồn lãng mạn. Vào khoảng những năm hai mươi, đã xuất hiện một thế hệ nhà văn mới. Phần đông trong số họ đều là những người chịu ảnh hưởng sâu xa của những năm loạn lạc sau chiến tranh thế giới thứ nhất, và họ nhiệt thành muốn lưu đấu lại những điều họ cảm nghĩ về thời đại của họ.
Thế hệ này kịch liệt đả kích nền văn minh mà họ đa ít nhiều nhận thấy, họ cảm thấy chiến tranh đã làm cho tâm hồn con người tan rã. Họ cố gắng đi tìm trong con người những giá trị chân chính làm cho con người có thể sống được trong thời bình. Họ không nhìn về qua khứ, mà nhìn về tương lai. Tuy vậy trong thời kì lộn xộn chiến tranh, những dự cảm của họ không hoàn toàn rõ ràng, mạch lạc.
Trong các tác phẩm, ta nhận thấy bàng bạc một cuộc sống bấp bênh, tuyệt vọng mà con người phải hứng chịu "Một thế giới ghê tởm đang lăn trên bờ vực thẳm". Lịch sử những cuộc chiến đi qua, sau sự lắng đọng của thời gian, chúng ta phải công bằng nhìn nhận rằng, trong thẳm sâu mỗi nhà văn, họ đều thực lòng đi tìm những gia trị khả dĩ, cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt vong. Và trước khi những giá trị mới đó được nhận ra, hiểu thấu và chấp nhận, thì nhiều giá trị cũ đối với họ không thể còn chấp nhận được mà phải kiên quyết xoa bỏ. Bên dưới những lời châm biếm chua cay, các nhà văn muốn tìm đến một cuộc đời thật xứng đáng, trong đó tinh thần con người phải được cải thiện tốt đẹp hơn.
Ẩn dấu trong giọng hoài nghi, các nhà văn vẫn ngầm nuôi một niềm tin ở sự tồn tại của cuộc đời. Mặc dầu những tác phẩm của họ còn nhiều chỗ văn phong phóng túng, nhưng chúng vẫn rất ý nghĩa bởi những giá trị sâu sắc của một thiến hướng đạo đức lành mạnh. Tiểu thuyết Mĩ khởi sắc với những nhà văn trưởng thành sau chiến tranh thế giới thứ nhát Thế hệ này bao gồm những nhà tiểu thuyết tiên phong trong việc "đổi mới các phương pháp và các nguồn cảm hứng". Họ đã khai sinh ra kỉ nguyên văn học mà người ta gọi là "Kỉ nguyên của tiểu thuyết Mĩ".
SINCLAIR LEWIS (1885-1951) là nhà văn tiên phong trong số các nhà văn Mĩ đoạt giải Nobel ve văn chương. Ong đã rất thành công trong việc xây dựng bức tranh toàn cảnh về đời sống Mĩ và con người Mĩ những năm 1920-1930. Trong các tác phẩm của mình như "Main Street" ( phố chính, 1920) Lewis đã tỏ rõ thái độ bất bình của mình đối với đời sống xã hội, của chủ nghĩa tư bản Mĩ đang trên đà phát triển ngay từ đầu thế kỷ XX, với những bất công thối nát vô phương cứu chữa. Tiếp đó là tiểu thuyết "Babbit" ( 1929 ), nhà văn đã xây dựng nên một thế giới mơ ước, những con người mơ ước kiểu viễn tưởng như Wells, Antole Prance cho một xã hội công bằng, hạnh phúc.
Tiểu thuyết "Arrow Smith" thể hiện thái độ quyết liệt của Sinclair, thông qua nhân vật Gottlitb, ông chống lại sự sa đọa về đạo đức của giai cấp tư sản hãnh tiến, đang nắm vật chất của xã hội trong tay, họ là bọn người gian dối, tham lam, đê tiện. Lewis châm biếm, mổ xẻ, đả kích nước Mĩ tư bản, xây dựng một xã hội trong sáng theo kiểu B. Shaw và Wells vẫn ước mơ. Ông mổ xẻ tất cả những xấu xa trong xã hội Mĩ.
Tác phẩm của ông là luận đề về đời sống và đạo đức của xã hội thời đó, là những bức tranh sinh động của nền văn minh Mĩ trong thế kỉ XX. THOMAS WOLFE (1900-1938), với những tác phẩm phản ánh hiện thực đời sống Mĩ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Wolfe chú ý vào đề tài "giải phẫu" nước Mĩ qua sự phân tích ở một thành phố nhỏ chịu ảnh hưởng của tinh thần Thanh giáo. Tiểu thuyết "Căn lều và đá" (1939 ) là một ví dụ.
Wolfe có những ảnh hưởng nhất định đến bộ mặt văn học Mĩ. Sau Wolfe là Scott Fitzgerald ( 1896-1940 ), ông là nhà văn thuộc "Lost generation" ( thế hệ mất mát). Là thế hệ những nhà văn tham gia chiến tranh và bị mất lòng tin vào cuộc đời. Tiểu thuyết "Phiá bên này của thiên đường" (1920 ) được xem là bản tuyên ngôn của thế hệ trẻ sau chiến tranh "Tất cả thần thánh đều đã chết, tất cả hi vọng của con người đều bị lừa dối".
Đó là một thế hệ không tin vào một cái gì ngoài những thú vui xa xỉ, đôi khi còn bị đẩy đến chỗ phi đạo đức như trong tiểu thuyết "Gasby vĩ đại" ( 1925 ). Tác phẩm "Đêm êm dịu" (1934 ) mang nặng tâm trạng buồn rầu và chán nản. Những nhân vật trong đó đi tìm phương thức chữa trị bệnh li uất trong rượu mạnh, khiêu vũ và nhạc Jazz. JOHN DOS PASSOS (1896-1970 ) là người đã lớn tiếng tố cáo sự vô nghĩa của các cuộc chiến tranh, đưa ra ánh sáng những khía cạnh đen tối trong nền kinh tế của nước Mĩ không một chút thương hại.
Ông đã trình bày sự hèn nhát và ích kỉ của chủ nghĩa tư bản. về mặt nghệ thuật, Dos Passos là một nhà cách tân lớn. Trong tác phẩm bộ ba "ƯSA", ông đã đồng thời đưa ra hàng chục âm mưu khác nhau, đan chéo vào nhau. Không phân tích tâm lí và không đi sâu vào nội tâm nhân vật, ông xem tiểu thuyết như "ống kính máy quay phim".
Ông nghiên cứu hành vi con người trong xã hội qua những phản ứng cử chỉ ở nhiều góc độ khác nhau. Để chỉ định thời gian hay không gian, Dos Passos nhờ đến sự trình bày những mảng thời sự như trích dẫn nhật báo, diễn văn, áp phích. Sự cách tân trong nghệ thuật của Dos Passos đã có ảnh hưởng lớn đến tiểu thuyết Mĩ và tiểu thuyết châu Âu. Đặc biệt là Hemingway (1899- 1961 ), nhà văn tiêu biểu nhất cho"thế hệ mất mát".
WILIAM FAULKNER (1897-1962 ) là một nhà tiểu thuyết xuất sắc của thế kỉ XX. Tác phẩm của ông là những bức tranh kì vĩ và hùng tráng của con người và thiên nhiên miền Nam. Trong những kiệt tác ấy, nổi bật nhất là tiểu thuyết "The sounds and the fury" (Âm thanh và cuồng nộ, 1929 ). Với cách nhìn hài hước có pha chút bi thảm, ông đã sáng tạo nên một thế giới con người sống động, hỗn độn, quái gở, rối rắm.
Faulkner là nhà văn rất đặc sắc trong nghệ thuật độc thoại nội tầm. Tác phẩm của ông là những giờ phút của "giằng xé lương tâm" mà trong đó khái niệm thời gian không còn giá trị. Cách viết của Faulkner đối lập với truyền thống, ông soi rọi vào những ham muốn khốc liệt nhất, lột trần những ẩn ức được che đấu kĩ lưỡng. Thế giới đen tối trong tác phẩm của ông chỉ được soi sáng bằng những tia chớp bạo lực.
Faulkner là một trong những nhà văn tiên phong sử dụng thành công thủ pháp nghệ thuật hiện đại và các trào lưu mĩ học hiện đại trong tiểu thuyết thế kỉ nấy. JOHN STEINBECK ( 1902-1968 ), là người đã phát tậển truyền thống hiện thực Mĩ lên một bước mới. "Chùm nho nổi giận" (1939 ) là một tiểu thuyết có tính sử thi, miêu tả sự phá sản và khốn cùng của những người nông dân Mĩ, bởi sự bóc lột của tổ hợp nông nghiệp lớn.