Luận văn thạc sĩ đào nguyên phổ trong đời sống văn hoá văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx

Luận văn thạc sĩ văn học nghiên cứu đào nguyên phổ trong đời sống văn hoá văn học việt nam những thập niên cuối thế kỷ xix đầu thế kỷ xx, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2012

121
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận Văn Thạc Sĩ

Luận Văn Thạc Sĩ của Trần Thị Thanh Thúy tập trung nghiên cứu về Đào Nguyên Phổ, một nhân vật quan trọng trong văn hóavăn học Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Luận văn nhằm khôi phục vị trí xứng đáng của Đào Nguyên Phổ trong lịch sử văn học, qua đó làm rõ những đóng góp của ông trong bối cảnh xã hội đầy biến động. Nghiên cứu văn hóanghiên cứu văn học được kết hợp để phân tích sâu sắc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng của Đào Nguyên Phổ.

1.1. Lý do chọn đề tài

Luận văn được thực hiện nhằm khắc phục sự thiếu hụt trong nghiên cứu về các tác giả văn học ít được biết đến như Đào Nguyên Phổ. Ông là một nhà nho, nhà báo, và nhà hoạt động văn hóa có ảnh hưởng trong giai đoạn chuyển giao văn hóa và văn học Việt Nam. Luận văn nhấn mạnh sự cần thiết của việc nghiên cứu toàn diện để hiểu rõ hơn về văn hóa truyền thống Việt Namvăn học hiện đại Việt Nam.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp xã hội học, so sánh, và phân tích-tổng hợp để đánh giá vai trò của Đào Nguyên Phổ. Phương pháp xã hội học giúp hiểu rõ các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến sự nghiệp của ông. Phương pháp so sánh làm nổi bật sự khác biệt giữa Đào Nguyên Phổ và các nhân vật cùng thời. Phương pháp phân tích-tổng hợp giúp đánh giá toàn diện các đóng góp của ông.

II. Đào Nguyên Phổ trong văn hóa và văn học Việt Nam

Đào Nguyên Phổ là một nhân vật đa diện, đóng góp lớn cho văn hóa Việt Namvăn học Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Ông không chỉ là một nhà nho chính thống mà còn là người tiên phong trong việc canh tân văn hóa và văn học. Luận văn phân tích sâu về các hoạt động của ông trong lĩnh vực báo chí, giáo dục, và văn chương, qua đó làm rõ vai trò của ông trong thời kỳ chuyển giao văn hóathời kỳ chuyển giao văn học.

2.1. Đào Nguyên Phổ trong văn hóa

Đào Nguyên Phổ đã tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa, đặc biệt là trong Đông Kinh Nghĩa Thục, một tổ chức yêu nước đầu thế kỷ XX. Ông cũng là nhà báo tiên phong, góp phần phát triển báo chí Bắc Kỳ. Những đóng góp của ông trong lĩnh vực văn hóa đã giúp định hình văn hóa cuối thế kỷ XIXvăn hóa đầu thế kỷ XX.

2.2. Đào Nguyên Phổ trong văn học

Trong lĩnh vực văn học, Đào Nguyên Phổ đã để lại nhiều tác phẩm có giá trị, bao gồm các bài đề tựa và thơ ca. Ông là người tiên phong trong việc kết hợp giữa văn học truyền thốngvăn học hiện đại, tạo nên một phong cách độc đáo. Luận văn phân tích các tác phẩm của ông để làm rõ sự ảnh hưởng của ông trong dòng chảy văn chương thời kỳ này.

III. Đào Nguyên Phổ trong bối cảnh xã hội Việt Nam

Đào Nguyên Phổ sống và hoạt động trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử văn hóalịch sử văn học Việt Nam. Ông đã đối mặt với nhiều thách thức trong việc cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa văn hóa và chính trị. Luận văn đánh giá cao những nỗ lực của ông trong việc thúc đẩy sự phát triển của văn hóa và xã hội Việt Nam cũng như văn học và xã hội Việt Nam.

3.1. Thời kỳ chuyển giao văn hóa

Đào Nguyên Phổ đã đóng góp quan trọng trong thời kỳ chuyển giao văn hóa, khi Việt Nam đang chuyển mình từ một xã hội phong kiến sang một xã hội hiện đại. Ông là người tiên phong trong việc tiếp thu và phổ biến các tư tưởng mới, góp phần thay đổi nhận thức của người dân.

3.2. Thời kỳ chuyển giao văn học

Trong thời kỳ chuyển giao văn học, Đào Nguyên Phổ đã chọn con đường viết báo và sáng tác văn học thay vì tham gia vào các hoạt động chính trị trực tiếp. Ông đã sử dụng ngòi bút như một vũ khí để đấu tranh cho sự tiến bộ của xã hội, qua đó góp phần định hình văn học hiện đại Việt Nam.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TIỂU SỬ VÀ NHỮNG BƯỚC CHUẨN BỊ CHO SỰ NGHIỆP CỦA ĐÀO NGUYÊN PHỔ 1. Sơ lược tiểu sử. Đào Nguyên Phổ (1861 – 1908) thuộc vào hàng ngũ “thế hệ Phan Bội Châu”.

Toàn bộ cuộc đời không dài của Đào Nguyên Phổ nằm trọn trong giai đoạn đầu của cuộc xâm lăng của thực dân Pháp, cũng là giai đoạn đầu của cuộc chống xâm lăng mà dân tộc Việt Nam tiến hành chống chủ nghĩa thực dân phương Tây : một giai đoạn xã hội có nhiều biến động, có sự chuyển mình đau đớn, có sự khủng hoảng, bế tắc trong đường lối cứu nước. Vì vậy cả cuộc đời Đào Nguyên Phổ, dù ít dù nhiều, trong mỗi lựa chọn, mỗi biến cố đều nằm trong “từ trường” của cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ gian khổ. Hơn nữa, là người sớm nhập cuộc, tính cách và chí hướng của ông gắn bó rất chặt chẽ với thời thế. Đào Nguyên Phổ sinh ra và lớn lên tại làng Thượng Phán, tổng Đồng Trực huyện Quỳnh Côi, Thái Bình (nay là xã Quỳnh Hoàng, Quỳnh Phụ, Thái Bình).

Lúc nhỏ, Đào Nguyên Phổ có tên là Đào Doãn Cung, tên thân mật thường gọi ở nhà là cậu Ba. Gia đình Đào Nguyên Phổ cũng như dòng họ Đào trước Đào Nguyên Phổ không phải là một dòng họ nổi tiếng về khoa cử, gia đình của Đào Nguyên Phổ không phải là một gia đình thế nho. Thân phụ của Đào Doãn Cung là Đào Văn Lịch đỗ cử nhân khoa Mậu Thìn, triều Tự Đức năm thứ 21 (1868). Sau khi thi đỗ, ông Lịch được bổ làm tri huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) một thời gian rồi về quê dạy học.

Trước Đào Văn Lịch, tên tuổi dòng họ Đào hoàn toàn vắng bóng trong các bảng vàng hoặc trong các ngạch quan chức, nằm trong đại đa số những người “vô danh” rất bình thường ở làng Thượng Phán. Đến Đào Nguyên Phổ, cuộc đời và tên tuổi có thể nổi danh thì lại rơi vào thời kỳ mà xã hội Việt Nam có rất nhiều ba động. Trước khi Đào Nguyên Phổ ra đời ba năm, thực dân Pháp nổ súng vào cửa 10 biển Đà Nẵng, bắt đầu đưa nước ta vào thời kỳ chiến tranh đau thương. Năm Đào Nguyên Phổ cất tiếng khóc chào đời cũng là năm thực dân Pháp chính thức xâm lược nước ta.

Chỉ một năm sau đó, năm 1862, thực dân Pháp ép buộc triều đình cắt ba tỉnh miền Đông cho chúng là Gia Định, Định Tường và Biên Hoà. Đến năm 1867, thực dân Pháp lại thực hiện tiếp ý đồ xâm chiếm từng bước nước ta khi chúng yêu cầu triều đình cắt ba tỉnh miền Tây là Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên cho chúng. Có được Nam Kỳ, thực dân Pháp sẽ lần lượt chiếm nốt Bắc Kỳ và Trung Kỳ như một logic tất yếu. Tuy ở mỗi kỳ chúng áp dụng một hình thức cai trị khác nhau (Nam Kỳ là xứ trực trị, thuộc địa còn Bắc Kỳ và Trung Kỳ là đất bảo hộ) nhưng trong thực chất, thì quyền lực của thực dân Pháp bao trùm trên toàn cõi Việt Nam.

Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân đến đất nước ta, nhân dân ta, nhất là nhân dân Nam Kỳ đã đứng lên kháng chiến chống lại sự xâm lược đó. Rồi các cuộc khởi nghĩa ở khắp nơi nổ ra như khởi nghĩa ở Huế năm 1866, khởi nghĩa Cần Vương năm 1885. Có thể nói cho đến lúc này và cả sau này, ở Thái Bình không có nhiều phong trào kháng Pháp thật rộng lớn chính vì vậy guồng quay của cuộc sống vẫn quay theo những đường ray sẵn có từ trước. Cậu bé Đào Doãn Cung được cha định hướng theo nghiệp khoa cử truyền thống.

Đào Doãn Cung tuổi trẻ đã nổi tiếng là người hay chữ, học chữ mau nhớ, thông minh, có tài ứng đối. Doãn Cung tham dự vào khoa trường rất sớm. Sau đó, đi dạy học (từ 1878 đến 1883) lần lượt ở các địa phương như: Duyên Hà (Thái Bình), Phù Cừ (Hưng Yên). GS sử học Đinh Xuân Lâm nhận xét hành động này là “lòng tôn trọng và gắn bó với “nghề thầy” cao quý, đồng thời cũng cho thấy sự lạnh nhạt của ông đối với quan trường”[61; tr.

Có lẽ “giáo nghiệp” đã như một thứ trời định cho Đào Nguyên Phổ. Trước sau trong cuộc đời, Đào Nguyên Phổ đã có tám năm 11 làm thầy đồ dạy học tại gia và chín tháng làm thầy giáo ở Đông Kinh Nghĩa Thục. Ngoài ra Đào Nguyên Phổ còn có thời gian dài tới sáu năm (1884 đến 1890) làm giáo thụ: vừa làm quan quản lý việc học hành (học quan), lại vừa làm thầy trực tiếp ở Tam Nông, Hưng Hoá. Vậy là Đào Nguyên Phổ đã cống hiến gần một phần tư đời mình cho công tác giáo dục của đất nước, mặc dù ở mảng giáo dục, ông chưa được đề cao như các mảng hoạt động khác.

Nhưng như đã biết, thời đại nào cũng vậy giáo dục cũng là một hoạt động, một lĩnh vực hết sức quan trọng để dạy thế hệ trẻ biết kiến thức, biết kỹ năng để sống, làm người. Giáo dục dạy con người đạo lý ở đời, biết yêu chính nghĩa, lẽ phải, yêu quê hương đất nước; biết ghét những điều sai trái, biết đấu tranh để bảo vệ lẽ phải, bảo vệ chính nghĩa. Giáo dục góp phần không nhỏ định hướng tư duy con người. Năm 1883, 1884 triều đình lần lượt ký với Pháp hai hòa ước mà thực chất là hàng ước, đó là hòa ước Quý Mùi và Giáp Thân (hay còn gọi là điều ước Hăcmăng và điều ước Patơnôt).

Hai hàng ước này đã đánh dấu sự bất lực của triều đình Huế trước sức mạnh của kẻ thù. Kẻ thù hoàn toàn xa lạ, hơn ta về mọi mặt: vũ khí, phương tiện, kỹ thuật và trên hết là hơn ta cả một phương thức sản xuất. Đây cũng là thời điểm mà Đào Nguyên Phổ chính thức bước vào nghiệp quan trường đầy sóng gió (1884). Cả triều đình hàng giặc, vị huyện quan trẻ tuổi Đào Nguyên Phổ còn làm gì được nữa trong cương vị của mình! Ông rơi vào tâm trạng chán chường và tham gia vào các sự kiện văn học, văn hoá văn nghệ nhiều hơn là tham chính.

Hai bản dịch “Tiền Xích Bích phú” của Tô Đông Pha và khoảng 500 bài thơ thù tạc, ký thác tâm sự bài hát ca trù đã ra đời trong thời gian ông làm quan ở vùng đất Kinh Bắc nhiều truyền thống văn hoá này. Ngoài việc tích cực, nhiệt tình tham gia những hoạt động văn hoá thì những sự kiện, những nhân vật, thủ lĩnh yêu nước ở những địa phương lân cận cũng có ảnh hưởng, tác động không nhỏ tới Đào Nguyên 12 Phổ. Đó là tấm gương sáng về nhân cách của người tri thức yêu nước Nguyễn Quang Bích - người đồng hương với Đào Nguyên Phổ. Nguyễn Quang Bích là Hiệp Thống Bắc Kỳ quân vụ đại thần, quan tổng đốc, Hoàng giáp tiến sĩ, dựng cờ cứu nước được hơn mười năm, gây dựng được căn cứ vững mạnh ở một vùng phía Bắc nhưng vì sống lâu trong điều kiện thiếu thốn của rừng thiêng nước độc nên qua đời.

Đó còn là Hoàng Hoa Thám, một thủ lĩnh xuất sắc trong cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế đang khiến cho thực dân Pháp phải kiêng dè. Doanh trại của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám nằm ở huyện Yên Thế, phủ Lạng Giang, tiếp giáp với huyện Võ Giàng thuộc phủ Từ Sơn - nơi Đào Nguyên Phổ đang làm tri huyện nên Đào Nguyên Phổ không chỉ nghe đến danh tính lẫy lừng của con hùm xám Yên Thế mà còn có quan hệ đi lại với Đề Thám. Về Đề Thám, một viên chức của Pháp đã có nhận xét rất trân trọng như sau: “Tên tuổi của Đề Thám đã trở thành như một biểu tượng rất được trân trọng để liên kết tất cả những người bất mãn. Xung quanh tên tuổi của Đề Thám đã hình thành một huyền thoại về chủ nghĩa anh hùng, về tài năng của một chiến binh đối với người An Nam, đó là vị thủ lĩnh bách chiến bách thắng”.

Vị tri huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh ngồi chưa nóng chỗ thì đã phải rời bỏ ghế quan huyện. Năm 1891, trên địa bàn huyện Võ Giàng nơi Đào Nguyên Phổ đang cai quản xảy ra vụ mất tiền thuế của huyện, gần một nửa số tiền thuế không cánh mà bay. Và tất nhiên trách nhiệm thuộc về Đào Nguyên Phổ chứ không phải ai khác. Khi đó, vị huynh trưởng Đào Thế Mỹ (người anh đỗ cùng khoa thi với Đào Nguyên Phổ năm 1778) cũng đang làm quan tri huyện ở Hải Dương xin chuyển về Võ Giàng gánh vác trách nhiệm thay em, lo lót, chạy tội giúp em.

Sau cùng, Đào Nguyên Phổ đã “hạ cánh an toàn”, chỉ bị bãi chức mà không bị ngồi tù. Về sự việc để mất tiền thuế này có nhiều ý kiến khác nhau. Những ý kiến này cơ hồ trái ngược nhau hoàn toàn. Luồng ý 13 kiến tích cực thì cho rằng quan tri huyện Đào Nguyên Phổ đã ngầm mang tiền thuế để giúp đỡ nghĩa quân Đề Thám.

Có một số tư liệu cho rằng vị tri huyện Võ Giàng này có quan hệ đi lại với Hoàng Hoa Thám, sau này trở thành hùm xám Yên Thế, nhiều phen khiến giặc Pháp lo sợ, phải tìm cách thu phục, diệt trừ. Luồng ý kiến bên kia (tiêu cực) thì cho rằng vì nghiện thuốc phiện nên Đào Nguyên Phổ đã biến tiền thuế của huyện tan thành mây khói. Tác giả của “Đông Kinh Nghĩa Thục và phong trào Duy tân đầu tiên ở Việt Nam” đã đề cập đến chuyện Đào Nguyên Phổ hối hận vì đã từng sống phóng túng, hưởng lạc, buông thả. Đào Nguyên Phổ đã “trăn trối” với Lương Văn Can như sau: “Tôi chỉ vì lúc nhỏ đậu sớm nên đâm ra chơi bời hút xách, rượu chè đủ tật.

Cổ nhân nói “Thiếu niên cao khoa nhất bất hạnh dã” thật đúng vậy”. Nhà nho hành đạo Đào Văn Mại lại bước sang con đường ẩn dật bất đắc dĩ, lại làm một thầy đồ giống như trước khi ra làm quan. Nhưng lần thứ hai làm thầy đồ này của Đào Văn Mại có nhiều nét khác lần trước. Đã đi khá nhiều địa phương thuộc đồng bằng sông Hồng và trung du miền núi phía Bắc, tình hình thời cuộc đất nước không khỏi khiến cho Đào Văn Mại lưu tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Đào Nguyên Phổ Trong Văn Hóa Và Văn Học Việt Nam Cuối Thế Kỷ XIX Đầu Thế Kỷ XX là một nghiên cứu chuyên sâu về nhân vật Đào Nguyên Phổ, một nhà văn hóa và văn học tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn chuyển giao giữa thế kỷ XIX và XX. Tài liệu này không chỉ khám phá sự nghiệp và đóng góp của ông đối với nền văn hóa dân tộc mà còn phân tích bối cảnh lịch sử, xã hội đã ảnh hưởng đến tư tưởng và tác phẩm của ông. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại trong văn học Việt Nam thời kỳ này, cũng như nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.

Để mở rộng kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ ngôn từ thơ thời kỳ kháng chiến chống pháp 1946 1954 nhìn từ bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, nghiên cứu về ngôn ngữ thơ trong giai đoạn kháng chiến, hoặc Luận văn thạc sĩ ngữ văn phương ngữ nam bộ trong tiểu thuyết bà chúa hòn của nhà văn sơn nam, khám phá sự đa dạng ngôn ngữ trong văn học Việt Nam. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu văn bản những tác phẩm mang tên nguyễn khắc trạch hiện tàng trữ tại viện nghiên cứu hán nôm cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu thêm về các tác phẩm văn học cổ điển và quá trình bảo tồn chúng.