Chương 1 NHỮNG TIỀN ĐỀ CỦA CUỘC CÁCH MẠNG THỊ TRƯỜNG (1793 - 1860) 1. Khái niệm “cách mạng thị trường” Cách mạng Mỹ (1775 – 1783) giành thắng lợi là bước dọn đường cho sự phát triển của Mỹ và kinh tế Mỹ. Từ giữa thế kỷ XVIII khái niệm cuộc cách mạng công nghiệp được hình thành. Cách mạng công nghiệp được hiểu là “bước phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất bằng máy móc ở những nước phương Tây nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX dẫn đến thiết lập hoàn toàn chủ nghĩa tư bản”[30;tr.
Đối với lịch sử nước Mỹ những biến động kinh tế mạnh mẽ trong giai đoạn đầu thế kỷ XIX luôn gây ấn tượng đối với các nhà sử học. Và để giải thích cho những sự thay đổi mạnh mẽ trên của nước Mỹ vào năm 1950, George Rogers Taylor đã gọi đó là “cách mạng giao thông vận tải”.“Từ năm 1815 tới năm 1850, người Mỹ đã xây dựng được một mạng lưới đường sá, sông đào rộng khắp và những tuyến đường ray xe lửa đầu tiên; mở rộng vùng lãnh thổ mới sáp nhập cho việc định cư và hoạt động thương mại; đồng thời bắt đầu công nghiệp hóa sản xuất” [7;tr. Các nhà nghiên cứu không đưa ra nhiều ý kiến phản đối lý giải của Taylor mà thiên về việc xem xét lại một số yếu tố liên quan. Trong nhiều năm, các nhà nghiên cứu sử học người Mỹ đã phải đau đầu và gặp không ít khó khăn trong việc tìm ra tiêu đề để miêu tả giai đoạn 1815 – 1848.
Trong khoảng hơn 50 năm (từ cuối thế kỷ XVIII đến năm 1860) ở Mỹ có sự thay đổi các điều kiện về kinh tế đã nhanh chóng làm đảo lộn tôn ti trật tự xã hội cũ đang tồn tại, thay thế bằng những cơ hội hoàn toàn mới, các nhà sử học gọi những biến đổi thời kỳ này là cuộc cách mạng thị trường. Cuộc cách mạng thị trường diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX đến trước nội chiến, nó được coi là một quá trình hơn là một sự kiện. Cách mạng thị 11 c trường có nhiều khái niệm khác nhau. “Cuộc cách mạng thị trường là cải tiến của những phát minh, những thay đổi trong cách mà người Mỹ làm ăn và thay đổi cách mọi người đưa hàng hóa ra thị trường đã xảy ra trong khoảng thời gian này từ năm 1790 đến năm 1860” [31;tr.
Theo tiến sĩ Jane Fiegen Green: “Trong những năm đầu của thế kỷ XIX, để thực hiện tham vọng thương mại vô tận của người Mỹ. Giai đoạn giữa cách mạng và Nội chiến, một thế giới sinh tồn cũ đã chết và một quốc gia thương mại mới hơn đã ra đời. Người Mỹ đã tích hợp các công nghệ của cách mạng công nghiệp vào một nền kinh tế thương mại mới. Năng lượng hơi nước, công nghệ di chuyển tàu hơi nước và đường sắt, thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp Mỹ bằng cách cung cấp năng lượng cho các nhà máy và châm ngòi cho mạng lưới giao thông quốc gia mới.
Đó được gọi là cuộc cách mạng thị trường”[40]. Hay nói cách khác thì “Cuộc cách mạng thị trường (1793 - 1860) ở Mỹ là một sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống lao động thủ công có nguồn gốc từ miền Nam, lan sang miền Bắc và sau đó lan ra toàn thế giới. Thương mại truyền thống đã trở nên lỗi thời bởi những cải tiến trong giao thông vận tải, thông tin liên lạc. Với sự tăng trưởng của sản xuất trong nước quy mô lớn, thương mại ở Mỹ tăng lên và sự phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài giảm đi”[36].
Về cơ bản, cách mạng thị trường là sự kết hợp những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp với cách mạng giao thông vận tải và thông tin liên lạc. Quá trình này tạo nên sự thay đổi kinh tế, hình thức tổ chức sản xuất của nước Mỹ nửa đầu thế kỷ XIX. Từ một quốc gia nông nghiệp lạc hậu trong giai đoạn đầu của sự phát triển kinh tế dưới thời Thomas Jefferson đến giữa thế kỷ XIX Hoa Kỳ đã tạo được tiền đề cần thiết để trở thành một cường quốc kinh tế lớn. Cách mạng thị trường đã có tác động trực tiếp đến cuộc sống của người dân Mỹ theo cách này hay cách khác.
Bối cảnh thế giới và khu vực 1. Bối cảnh thế giới Vào thế kỷ thứ XVI, cuộc cách mạng tư sản Hà Lan diễn ra chống lại ách thống trị của thực dân Tây Ban Nha, thành lập nên nước cộng hòa Hà Lan. Một thế kỷ sau, nước Anh tiến hành cuộc cách mạng tư sản thành công, cuộc cách mạng tư sản lớn đầu tiên trên thế giới, mở ra thời kỳ mới của chủ nghĩa tư bản. Sau cuộc cách mạng tư sản Anh lần lượt các cuộc cách mạng tư sản nổ ra ở Bắc Mỹ, Pháp, Đức, Italia và các quốc gia châu Âu khác.
Cuối thể kỷ XVIII, đầu thể kỷ XIX, các cuộc cách mạng tư sản từng bước được hoàn thành, điều đáng chú ý đó là những sự kiện quan trọng chi phối mối quan hệ quốc tế ở châu Âu là cuộc cách mạng tư sản Pháp. Cách mạng Pháp nổ ra, lôi cuốn các nước châu Âu vào một khủng hoảng kéo dài và sâu sắc nhất. Cuộc chính biến 9/11/1799, các cuộc chiến tranh của Napoleon đã đẩy nhân dân vào vòng xoáy chiến tranh tranh giành địa vị bá chủ kéo dài làm đảo lộn trật tự xã hội cũng như bản đồ châu Âu. Từ sau năm 1812, quân đội Napoleon ngày càng yếu thế do sự phản kháng của các dân tộc bị trị, đặc biệt là sự tấn công liên tiếp của liên minh các nước châu Âu.
Trước tình hình đó, đội quân của các quốc gia châu Âu đã hợp sức lại đánh bại Napoleon tại kinh thành Paris. Trận Waterloo (1815) kết thúc đồng nghĩa với sự sụp đổ của Đế chế thứ nhất – lịch sử châu Âu bước sang trang mới. Nhằm sắp xếp lại trật tự châu Âu trong một thời gian dài bị đảo lộn, ngay khi cuộc chiến chống Napoleon chưa kết thúc, tháng 9-1814, các cường quốc Châu Âu trong liên minh chống Pháp triệu tập hội nghị tại Vienna thủ đô của Áo. Hội nghị Vienne là hội nghị ngoại giao lớn nhất và quan trọng nhất từ trước đến nay nhằm thanh toán cuộc chiến tranh kéo dài hơn 20 năm đã từng làm đảo lộn trật tự xã hội cũ.
“Mục đích của hội nghị là: thứ nhất, xóa bỏ ảnh hưởng của cách mạng Pháp, thủ tiêu những cải cách tiến bộ đã tiến hành ở nhiều nước châu Âu vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, khôi 13 c phục trở lại trật tự phong kiến; thứ hai, ngăn cản nước Pháp quay trở lại đế chế Napolenon ; thứ ba, phân chia lãnh thể nhằm thỏa mãn tham vọng của các cường quốc thắng trận.21] Hiệp định Vienne đi đến thống nhất được kí kết (1815) dẫn đến sự hình thành một trật tự mới và làm thay đổi bản đồ châu Âu dưới sự kiểm soát của các nước thắng trận (Anh, Nga, Áo, Phổ). Các nước châu Âu đã thành lập các tổ chức như “Đồng minh Thần Thánh” và “Đồng minh Tứ cường” làm công cụ để bảo về quyền lợi của các nước thắng trận chống lại phong trào đấu tranh của quần chúng. Hòa bình của Hội Nghị Vienne không phải là một nền hòa bình thực sự mà chỉ nhằm đáp ứng tham vọng của các cường quốc ở châu Âu “các dân tộc được mua và bán, được chia và hợp chỉ nhằm đáp ứng nhiều hơn nữa quyền lợi và ý đồ của những kẻ cai trị họ” [9;tr. Trật tự quốc tế được thiết lập sau hội nghị Vienne do các cường quốc chiến thắng Pháp tạo ra ở châu Âu dựa trên sự hy sinh, chà đạp quyền lợi của các dân tộc hơn nữa lại phục hồi chế độ phong kiến lỗi thời lạc hậu càng khắc sâu mâu thuẫn với quần chúng nhân dân.
Trên khắp lục địa châu Âu (ngoại trừ nước Anh) nổ ra hàng loạt các cao trào cách mạng dân tộc và dân chủ đầu thế kỷ XIX. Trong bối cảnh chung của thế giới, nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đang trong giai đoạn phát triển cực thịnh. Sự phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa tư bản ở châu Âu dần dần lan sang châu Á điển hình là Nhật Bản. Vào giữa thế kỷ XIX, tư bản ngoại quốc bắt đầu xâm nhập vào Nhật Bản.
Cũng như những nước châu Á khác, Nhật có nguy cơ trở thành thuộc địa của các nước phương tây. Đứng trước tình hình đó, Nhật Bản buộc phải mở cửa cho các nước Phương tây vào buôn bán. Ngày 31 tháng 3 năm 1854, Nhật Bản ký hiệp ước Kanagaoa đồng ý mở cửa hải cảng Shimoda và Hakadate. Đây được coi là tiếng súng đầu tiên nổ vào sự cô lập tự thủ của Nhật Bản.
Với cuộc cải cách Duy tân Minh Trị năm 1868 thành công, đã giúp nước Nhật thoát khỏi vòng vây của các nước tư bản phương tây và trở thành nước tư bản hùng mạnh ở 14 c châu Á. Nhật Bản nhanh chóng trở mình tham gia vào công cuộc cạnh tranh, mở rộng phạm vi ảnh hưởng và hệ thống thuộc địa ở Châu Á – Thái Bình Dương. Vào đầu thế kỷ XIX, trong khi hầu hết các quốc gia châu Âu bị chao đảo bởi các cuộc cách mạng tư sản thì ở một diễn biến khác nước Anh vẫn trong thời gian ổn định. Cuộc cách mạng công nghiệp kết thúc một cách suôn sẻ và với vai trò là “công xưởng thế giới”, nước Anh vươn lên vị trí đứng đầu nền kinh tế thế giới.
Bằng chứng là “đến năm 1850, sản lượng than đá, gang, hàng chế tạo bằng bông của Anh đã chiếm ½ sản lượng toàn thế giới” [24;tr. Ngành công nghiệp đóng tàu phát triển, cho ra đời những đội tàu biển có trọng tải lớn, nắm quyền bá chủ trên các đại dương. Sự phát triển thịnh vượng của nền kinh tế là nền tảng cho nước Anh triển khai chính sách đối ngoại ra bên ngoài, trước hết đối với các cường quốc châu Âu. Từ sau Hội nghị Vienne, nước Anh theo đuổi chính sách cân bằng lực lượng, đây là chính sách ngăn cản bất cứ quốc gia hoặc nhóm quốc gia nào phá vỡ thế nguyên trạng được duy trì ở châu Âu hoặc nơi khác.
Đánh giá về chính sách đối ngoại nước Anh giai đoạn này, một học giả Mỹ Hans Morgenthau, nhận định: “Nước Anh, nước giữ thế cân bằng giỏi nhất. luôn để cho các quốc gia khác chiến đấu hộ mình, luôn giữ cho châu Âu bị chia rẽ để thống trị lục địa châu Âu và tính chất bất định trong chính sách nước này làm cho liên minh với Anh là điều không thể” [11;tr.