Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH CÔNG NGHIỆP THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành công nghiệp 1. Cơ cấu kinh tế Hiện nay có nhiều quan niệm về cơ cấu kinh tế (CCKT). “Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hợp thành bởi nhiều yếu tố kinh tế của nền kinh tế quốc dân, giữa chúng có mối liên hệ hữu cơ, tác động qua lại với nhau trong những không gian, thời gian nhất định và trong điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể.
Nó thể hiện đầy đủ cả mặt định tính và định lượng, cả mặt chất lượng và số lượng, và vận động hướng vào những mục tiêu nhất định của nền kinh tế, (Ngô Thái Hà, 2014). Trong đó, mặt chất lượng quy định vai trò, vị trí quan trọng khác nhau của các yếu tố, các bộ phận cấu thành của CCKT; mặt số lượng thể hiện quan hệ tỷ lệ hình thành của của cơ cấu phù hợp với mặt chất lượng đã xác định. Nhưng khi mặt số lượng (quan hệ tỷ lệ, tốc độ.) thay đổi tạo ra khả năng thay đổi về chất, và lúc đó có sự thay đổi về CCKT. Theo Từ điển bách khoa Việt Nam:“Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, các lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành” (Trung tâm biên soạn từ điển quốc gia, 1995) Nội dung chủ yếu của cơ cấu kinh tế là : Tổng thể của các bộ phận (thành phần) hợp thành.
Các mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định theo một tương quan hay tỉ lệ nhất định. Cơ cấu kinh tế bao gồm cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và cơ cấu thành phần kinh tế, trong đó Cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quyết định. Việc phân chia các loại CCKT như trên không phải là cách phân chia duy nhất, lại càng không phải chỉ có từng ấy loại CCKT. Thực tế, tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà người ta có thể phân chia theo những cách khác nhau, và trong mỗi loại cơ cấu này, đến lượt nó lại bao hàm nhiều kiểu cơ cấu khác nữa (Sơ đồ 1.
1: Các bộ phận hợp thành cơ cấu nền kinh tế Nguồn: Ngô Doãn Vịnh, Bàn về phát triển kinh tế (Nghiên cứu con đường dẫn tới giàu sang), Nhà Xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. Cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là tổng hợp các ngành kinh tế và mối quan hệ tỷ lệ giữa các ngành thể hiện ở vị trí và tỷ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế quốc dân. Cơ cấu ngành kinh tế phản ánh trình độ phân công lao động xã hội của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (Bùi Tất Thắng, 2006) Một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, hiệu quả trước hết phải huy động được nội lực các ngành, thu hút tối đa đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau, khai thác tối đa công nghệ và chất xám. Việc xác định cơ cấu ngành kinh tế hợp lý sẽ đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển kinh tế xã hội bền vững, khả năng tích lũy và thu hút đầu tư phát triển cao và mang lại sức cạnh tranh cao cho nền kinh tế (Bùi Tất Thắng 2006).
Cơ cấu ngành kinh tế còn được biểu hiện ra dưới các hình thức ngành lớn: Ngành cấp I, bao gồm 3 khu vực kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ; Ngành cấp II bao gồm: chăn nuôi, trồng trọt. trong nông nghiệp; cơ khí, luyện kim, năng lượng trong công nghiệp; Ngành cấp III bao gồm lúa, màu trong trồng trọt. Trong phạm vi luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu ngành công nghiệp ở cấp độ ngành cấp I (để so sánh với các ngành khác: nông nghiệp, dịch vụ) và cấp II (để thấy sự biến đổi của nội bộ các ngành nhỏ trong ngành công nghiệp) (Tạ Đình Thi, 2007). Ngoài ra, theo cách phân loại của Tổ chức thống kê Liên hợp quốc (United Nations Statistics Division) và phân loại ngành tiêu chuẩn quốc tế 7 (International Standard Industrial Classification –ISCI) thì toàn bộ hoạt động kinh tế được phân chia thành 20 ngành và 03 khu vực được thể hiện trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) và cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng và áp dụng SNA, cụ thể: Khu vực I: Sản phẩm khai thác từ tự nhiên (Việt Nam quen gọi là nhóm ngành nông nghiệp) gồm: (1) Nông nghiệp và lâm nghiệp, (2) Thủy sản, (3) Công nghiệp và khai thác mỏ.
Khu vực II: Chế biến từ sản phẩm khai thác – nhóm ngành công nghiệp, bao gồm: (4) Công nghiệp chế biến, (5) Xây dựng, (6) Sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước. Khu vực III: Khu vực dịch vụ bao gồm: (7) Thương mại, sửa chữa xe cong, động cơ, mô tô, xe máy và đồ dùng cá nhân và gia đình, (8) Du lịch, khách sạn – nhà hàng, (9) Vận tải, kho bãi và bưu chính viễn thông, (10) Tài chính, ngân hàng, (11) Hoạt động khoa học công nghệ, (12) Hoạt động liên quan đến kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn, (13) quản lí nhà nước, an ninh quốc phòng, bảo đảm xã hội, (14) giáo dục và đào tạo, (15) y tế và hoạt động cứu trợ xã hội, (16) hoạt động văn hóa, thể thao, (17) Hoạt động Đảng, Đoàn thể, Hiệp hội, (18) Hoạt động dịch vụ phục vụ cá nhân và cộng đồng, (19) Dịch vụ phục vụ trong các hộ gia đình, (20) Hoạt động của các tổ chức và đoàn thể quốc tế. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của cách phân loại hoạt động sản xuất của Liên Hiệp quốc, Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định số 75/CP ngày 27/10/1993 ban hành Bảng phân ngành Kinh tế quốc dân thể hiện thống nhất trong cả nước. Trong Bảng phân ngành Kinh tế quốc dân của Việt Nam có một số điểm khác với ISIC là ngành khai thác mỏ thuộc khu vực II, trong khi đó, nếu theo cách phân loại của ISIC thì ngành khai thác mỏ thuộc khu vực I.
Điều này dẫn đến việc khi so sánh cơ cấu nền kinh tế quốc dân của nước ta với các nền kinh tế khác trên thế giới sẽ không tương thích và có một số sự sai lệch đáng kể về số liệu (Nguyễn Đình Hòa, 2006). Cơ cấu ngành công nghiệp Cơ cấu công nghiệp là số lượng các bộ phận hợp thành công nghiệp và mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận ấy. Một nền công nghiệp chỉ được coi là phát triển khi nó có một cơ cấu cân đối và hợp lý. Về mặt lượng, cơ cấu công nghiệp được xác định bằng tỷ trọng giá trị sản lượng (hoặc GDP) của từng bộ phận chiếm trong tổng giá trị sản lượng (hoặc GDP) của toàn bộ công nghiệp.
Tỷ trọng này phụ thuộc vào vị trí của mỗi bộ phận trong hệ thống. Những ngành công nghiệp then chốt, mũi nhọn thường chiếm tỷ trọng lớn, vì chúng luôn được ưu tiên về đầu tư phát triển. Những ngành công nghiệp “mới” lúc đầu thường chiếm tỷ trọng nhỏ, tỷ trọng này sẽ tăng dần lên cùng với sự trưởng thành của chúng. Phân theo ngành cấp 1, công nghiệp Việt Nam có 3 nhóm ngành: công nghiệp khai thác mỏ; công nghiệp chế biến và công nghiệp sản xuất, phân phối ga, điện, nước.
Cơ cấu công nghiệp là một trong ba nội dung tạo nên chất lượng tăng trưởng. Cơ cấu bền vững là cơ cấu phản ánh được xu thế phát triển chung (sản phẩm, công nghệ), đảm bảo các cân đối nội tại thượng-hạ nguồn, công nghiệp phụ trợ. và xuất nhập khẩu. Đó là cơ cấu đa dạng nhưng thống nhất và có khả năng hỗ trợ tốt cho nhau cho phép tạo ra các giá trị gia tăng lớn nhất.
Trong đó, hàm lượng công nghệ và chế biến sâu trở thành động lực chính của tăng trưởng, quyết định nội dung về chất của cơ cấu. Bên cạnh đó, công nghiệp bền vững còn phải được hỗ trợ bởi hệ thống đổi mới và nghiên cứu triển khai có năng lực, cơ sở thúc đẩy năng suất và chất lượng. Việc xác định thế nào là một cơ cấu ngành công nghiệp cân đối và hợp lý cho mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ và mỗi địa phương là khác nhau và không có một khuôn mẫu thống nhất. Một cơ cấu ngành công nghiệp được coi là cân đối và hợp lý khi nó khai thác, tận dụng được các nguồn lực, thế mạnh và lợi thế so sánh của quốc gia, vùng lãnh thổ, địa phương để tạo điều kiện tốt cho phát triển công nghiệp, đồng thời cơ cấu ngành công nghiệp đó phải chuyển dịch theo hướng hiện đại hóa.
Ngoài việc xác định cơ cấu nội bộ ngành công nghiệp, chúng ta còn phải quan tâm đến đóng góp của công nghiệp vào cơ cấu kinh tế nói chung, nói cách khác là quan tâm đến tỷ trọng của công nghiệp trong GDP. Một địa phương, quốc gia chỉ được coi là có nền công nghiệp phát triển khi tỷ trọng công nghiệp trong GDP ngày càng tăng. Cơ sở lý luận về phát triển bền vững 1. Khái niệm phát triển bền vững Thuật ngữ "phát triển bền vững" xuất hiện trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái ".
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 nhờ Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: “Phát triển bền vững là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Ngày nay, nói về PTBV, thường người ta dùng hai định nghĩa: i) PTBV là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng những nhu cầu của họ. ii) PTBV là sự phát triển không làm tổn hại đến môi trường, không gây ra những thảm họa về sinh thái, thế hệ hôm nay phải khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình sao cho không ảnh hưởng đến việc thỏa mãn những nhu cầu của thế hệ mai sau.