Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH SÁCH THI ĐUA, KHEN THƯỞNG 1. Khái niệm, nội dung về chính sách thi đua, khen thưởng 1. Khái niệm chính sách thi đua, khen thưởng Chính sách được hiểu là tập hợp các quyết định hay chương trình hành động do tập thể các nhà lãnh đạo, nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình. “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu 7 tổng thể đã xác định”.
Chính sách công là chính sách của Nhà nước là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Nhà nước với mục tiêu giải pháp cụ thể nhằm giải quyết một vấn đề kinh tế, xã hội nhất định, theo ý chí của Đảng cầm quyền. Theo Luật Thi đua, Khen thưởng số 15/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 thì: “Thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Khen thưởng là việc ghi nhận, biểu dương, tôn vinh công trạng và khuyến khích bằng lợi ích vật chất đối với cá nhân, tập thể có thành tích trong xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về TĐKT trong phạm vi cả nước”.
Như vậy, chính sách TĐKT ở Việt Nam có thể được hiểu như sau: Chính sách TĐKT là tập hợp các quy định của Chính phủ nhằm đưa ra các công cụ chính sách và cách thức giải quyết các vấn đề liên quan đến công tác TĐKT và hoạt động TĐKT của các tổ chức và cá nhân. Các cơ quan trong hệ thống hành pháp và mọi cá nhân, tổ chức có nhiệm vụ chấp hành các quy định này và thực hiện các hoạt động TĐKT theo đúng quy định của pháp luật. Vấn đề chính sách thi đua, khen thưởng Thực tiễn cho thấy, công tác TĐKT đã có bước chuyển biến tích cực từ khi Nhà nước ban hành Luật TĐKT; các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị cơ sở đã phát động nhiều phong trào thi đua một cách toàn diện và có chiều sâu gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị. Từ đó, công tác khen thưởng ngày càng đi vào nề nếp, thiết thực hơn và đạt được nhiều thành tích cơ bản trên các phương diện như: khen thưởng thành tích trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ và chống thực dân Pháp, khen thưởng niên hạn, khen thưởng quá trình cống hiến, khen thưởng theo chuyên đề, khen thưởng thành tích đột xuất, khen thưởng thường xuyên và khen thưởng đối ngoại.
Nhờ vậy, mà công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã được các tầng lớp nhân dân cả nước, đặc biệt là cán 8 bộ, công chức, viên chức và chiến sĩ góp phần tích cực vào. Bởi vì thông qua thi đua, khen thưởng thì họ đã được động viên, cổ vũ kịp thời. Luật Thi đua, Khen thưởng số 15/2003/QH11 đã được Quốc hội ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 và có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2004. Theo đó, Chính Phủ và Bộ Nội vụ cũng đã ban hành Nghị định, Thông tư để hướng dẫn thi hành.
Chỉ thị 34-CT/TW ngày 07-4-2014 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng” khẳng định: “công tác thi đua, khen thưởng đã có chuyển biến tích cực, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, đối ngoại và tăng cường đoàn kết dân tộc. Phong trào thi đua yêu nước đã được tổ chức sâu rộng, từng bước đổi mới nội dung, hình thức phát động thi đua, bám sát thực tiễn, gắn với Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và thực hiện nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị. Công tác khen thưởng cơ bản bảo đảm theo quy định của pháp luật, đã động viên, tôn vinh kịp thời tập thể, cá nhân đạt thành tích xuất sắc. Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt đã được quan tâm hơn.
Hệ thống pháp luật về thi đua, khen thưởng từng bước được hoàn thiện. Bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng các cấp được củng cố, kiện toàn. Các cơ quan truyền thông đại chúng có nhiều hình thức tuyên truyền về các phong trào thi đua và biểu dương người tốt, việc tốt”. Trước tình hình thực tiễn như hiện nay thì Luật TĐKT nói chung và công tác TĐKT nói riêng đã không hoàn toàn đáp ứng và phù hợp.
Vì thế, ngoài những thành tích đã nêu thì việc thực hiện công tác TĐKT vẫn tồn tại những hạn chế nhất định. Cụ thể như: “Phong trào thi đua phát triển chưa đồng đều, liên tục, nhiều nơi còn mang nặng tính hình thức, chưa gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị. Việc khen thưởng ở nhiều nơi còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; khen thưởng cho người lao động trực tiếp sản xuất, nông dân, công nhân còn ít. Việc phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân rộng điển hình tiên tiến hiệu 9 quả chưa cao; biện pháp tuyên truyền thiếu đồng bộ.
làm hạn chế động lực phấn đấu của tập thể và cá nhân. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế, yếu kém là: Sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền ở một số bộ, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, nhất là người đứng đầu còn chưa đầy đủ, toàn diện. Nhiều nơi, bộ máy làm công tác thi đua, khen thưởng chưa ổn định, thống nhất; năng lực tham mưu của cán bộ, công chức làm công tác này còn hạn chế”. Vì vậy, công tác TĐKT ở các ngành, các cấp cần được khắc phục kịp thời.
Trước thực trạng đó, ngày 16/11/2013, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật TĐKT số 39/2013/QH13 (có hiệu lực từ ngày 01/6/2014); Chính phủ đã ban hành Nghị định số 65/2014/NĐ- CP ngày 01/7/2014 quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật TĐKT năm 2013. Để thay thế Nghị định số 42/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi đua, khen thưởng, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/2017/NĐ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thi đua, khen thưởng. Mục tiêu chính sách thi đua, khen thưởng Theo điều 4, Luật thi đua, khen thưởng năm 2013“Mục tiêu của thi đua nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Thật vậy, mục tiêu của chính sách TĐKT là thông qua các phong trào thi đua mà phát huy tính tích cực trong công việc, vươn lên của các cá nhân, tập thể, ra sức học tập, lao động để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Qua các phong trào, qua thi đua khen thưởng thì người có thành tích tốt sẽ có động lực tiếp tục phát huy những thành tích của mình. Để từ đó, phấn đấu có 10 thêm những sáng kiến và đóng góp khác tiếp tục nâng cao năng lực của bản thân. Đồng thời, cùng với cơ quan, đơn vị phấn đấu hơn nữa hoàn thành nhiệm vụ chung ở mức độ cao hơn. Vì vậy, nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân, của toàn quân và của cả hệ thống chính trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì việc thực hiện tốt chính sách TĐKT là một trong những điều kiện cơ bản nhất.
Chẳng những phải thực hiện tốt công tác TĐKT mà phải thông qua nhiều hình thức phong phú, nhiều phương pháp hay, thiết thực làm cho các phong trào thi đua phát triển một cách toàn diện và có hiệu quả. Và có như thế thì việc học tập, lao động, sản xuất, kinh doanh của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế sẽ có một động lực mạnh mẽ hơn, hiệu quả hơn mà cùng nhau thi đua hoàn thành các chỉ tiêu trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, đời sống xã hội. Từ đó, góp phần đáng kể vào công cuộc xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp hơn. Giải pháp và công cụ chính sách thi đua, khen thưởng Giải pháp chính sách thi đua, khen thưởng: Xét từ những góc độ tiếp cận khác đối với mục tiêu của chính sách TĐKT, thì các giải pháp mà nhà nước thực hiện cũng nhằm phát huy vai trò là động lực của sự phát triển nhằm tạo ra bước đột phá mới, chuyển biến mạnh mẽ hơn, tích cực hơn để động viên cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hăng hái ra sức thi đua, lập nhiều thành tích trong thực hiện các nhiệm vụ được giao, từ đó góp phần tích cực hơn vào sự phát triển chung của đất nước vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Có thể rút ra nhận định rằng: một số giải pháp cơ bản luôn là vấn đề mà chính sách TĐKT của nước ta hướng đến. Đầu tiên phải kể đến việc tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Làm sao để các đối tượng này có thể nhận thấy được tầm quan trọng và ý nghĩa của chính sách TĐKT trong tất cả các lĩnh vực. Để từ đó, việc ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện đạt được hiệu quả cao nhất.
11 Giải pháp chính sách TĐKT được chia ra thành 2 nhóm nhỏ. Trong đó, sẽ gồm nhóm giải pháp liên quan đến mục tiêu chính sách và nhóm giải pháp liên quan đến công cụ chính sách. Cụ thể như sau: Các giải pháp liên quan đến mục tiêu chính sách bao gồm: giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phong trào thi đua và giải pháp nâng cao chất lượng công tác khen thưởng.