CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách, chính sách công Qua nghiên cứu tài liệu, cho thấy đến thời điểm hiện tại có rất nhiều quan niệm, rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách và chính sách công. Trên thế giới, việc định nghĩa về chính sách công vẫn là một chủ đề đang được tranh luận sôi động và chưa đạt được sự nhất trí cao.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu khoa học cũng có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công, nhưng theo số đông các nhà nghiên cứu, thì “chính sách” là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo, quản lý đề ra nhằm giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi, thẩm quyền của mình; là một quá trình hành động có mục đích được theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm. Trong cuốn sách “Chính sách kinh tế - xã hội”, các tác giả đồng nhất chính sách công với chính sách kinh tế - xã hội và đưa ra định nghĩa: “Chính sách kinh tế - xã hội là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ Nhà nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của xã hội” [22, tr. Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính: “Chính sách công là chiến lược sử dụng các nguồn lực để làm dịu bớt những vấn đề của quốc gia hay những mối quan tâm của Nhà nước. Chính sách công cho phép Chính phủ đảm nhiệm vai trò của người cha đối với cuộc sống của nhân dân.
Nó tạo thời cơ, giữ gìn hạnh phúc và an toàn cho mọi người; tạo ra an toàn tài chính và bảo vệ an toàn Tổ quốc” [34, tr. 17 Tại Viện Chính trị học, Học viện Chính trị-Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các nhà khoa học cho rằng: “Chính sách công là chương trình hành động của Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể” [35, tr. Theo Vũ Cao Đàm, “Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [36, tr. Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về chính sách công, nhưng tất cả các quan niệm đó đều nghiên cứu chính sách công với tư cách là sản phẩm có mục đích của Nhà nước, của chính quyền nhằm tác động đến đời sống của nhân dân.
Từ những quan niệm và phân tích nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa chính sách công như sau: “Chính sách công là tổng thể chương trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội theo phương thức nhất định nhằm đạt được các mục tiêu đề ra và đảm bảo cho xã hội phát triển bền vững, ổn định” [22, tr. Thực hiện chính sách công Thực hiện chính sách công cũng được hiểu theo nhiều khía cạnh, theo TS Lê Như Thanh và TS Lê Văn Hòa thì: “Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công” [37]. Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành quy trình chính sách, là trung tâm kết nối các giai đoạn trong quy trình chính sách thành một hệ thống. Trên thực tế, thực thi chính sách được coi là giai đoạn tổng hợp của cả ba giai đoạn trong quy trình chính sách: hoạch định chính sách, thực thi chính sách, đánh giá chính sách.
Bởi vì khâu tổ chức thực hiện chính sách đã căn cứ 18 vào giai đoạn hoạch định chính sách và trong thực hiện chính sách đã loại bỏ những cái không phù hợp, bổ sung cái mới, nghĩa là đã lồng ghép vào việc đánh giá chính sách. Thực thi chính sách là khâu quan trọng nhằm biến ý đồ của chính sách thành hiện thực; thực hiện các mục tiêu chính sách nhằm khẳng định tính đúng đắn và hiệu quả của chính sách. Tóm lại, thực thi chính sách là quá trình đưa chính sách vào thực tiễn cuộc sống thông qua việc ban hành các văn bản, chương trình, dự án. Thực thi chính sách và tổ chức thực hiện chính sách là nhằm mục đích hiện thực hóa các mục tiêu của chính sách.
Qua thực thi chính sách, giúp chúng ta thấy được những mặt mạnh, những điểm chưa phù hợp, kể cả trong hoạch định và thực thi chính sách; từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm để xây dựng và hoàn thiện chính sách cho phù hợp với thực tiễn và đạt hiệu quả cao hơn. Cán bộ Theo Đại Từ điển tiếng Việt, “Cán bộ” được hiểu là “Người làm việc trong cơ quan Nhà nước. Người giữ chức vụ, phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ, trong các cơ quan, tổ chức nhà nước” [38]. Theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại Khoản 1, Điều 4 quy định: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”.
Công chức Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, “Công chức” được hiểu là “Người làm việc hưởng lương từ ngân sách, trong cơ quan nhà nước” [38]. 19 Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật viên chức năm 2019, tại Khoản 2, Điều 4 quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”. Tóm lại, cán bộ, công chức cấp huyện là những cán bộ, công chức thuộc biên chế của các cơ quan nhà nước cấp huyện (gồm: UBND huyện, các cơ quan chuyên môn giúp việc UBND huyện, cơ quan Huyện ủy, cán bộ, công chức hưởng lương từ ngân sách nhà nước ở các tổ chức chính trị xã hội). Phân loại cán bộ, công chức - Phân loại theo ngạch Ngạch là tên gọi thể hiện thứ bậc về năng lực và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBCC.
Hiện nay, CBCC trong bộ máy hành chính Nhà nước ta được xếp theo thứ tự ngạch từ thấp đến cao, như sau: Nhân viên; cán sự và tương đương, Chuyên viên và tương đương; Chuyên viên chính và tương đương; Chuyên viên cao cấp và tương đương. - Phân loại theo bậc Mỗi ngạch lại được chia thành nhiều bậc khác nhau, là các thứ hạng trong một ngạch. Nếu chuyển ngạch thì phải được xét tuyển hoặc thi tuyển, còn việc nâng bậc trong phạm vi ngạch thì phụ thuộc vào thời gian công tác, hiệu quả công việc cũng như việc khen thưởng, kỷ luật CBCC. Cán bộ công 20 chức chỉ xét nâng bậc, không qua thi tuyển, cũng không yêu cầu trình độ qua các văn bằng, chứng chỉ.
Nếu người CBCC hoàn thành nhiệm vụ được giao, không bị kỷ luật thì cứ đến thời gian ấn định, thì sẽ được nâng lên bậc kế tiếp. Và đặc biệt hơn, đối với những CBCC có thành tích xuất sắc trong chuyên môn thì có thể xét nâng bậc trước thời hạn. CBCC cũng có thể không được chuyển ngạch, nhưng theo thời gian công tác, họ vẫn được nâng bậc. Tiêu chí đánh giá cán bộ, công chức - Tiêu chí về tuổi: Theo quy định hiện nay, CBCC phải những người nằm trong độ tuổi từ 18 đến 55 đối với nữ và từ 18 đến 60 đối với nam.
Riêng một số trường hợp cá biệt, khi đến độ tuổi nghỉ hưu vẫn có thể xem xét kéo dài thời gian công tác. Đa số những CBCC từ 40 tuổi trở lên thường có nhiều kinh nghiệm công tác cũng như phương pháp lãnh đạo, làm việc, tuy nhiên không phải là tất cả. Thực tế cũng có nhiều CBCC tuổi đời còn trẻ nhưng do được đào tạo cơ bản về chuyên môn nên khả năng tiếp cận công việc nhanh, làm việc hiệu quả, năng động, sáng tạo trong công việc. Do đó trong công tác cán bộ cần phải bố trí hài hòa giữa hai loại đối tượng để có được đội ngũ cán bộ, công chức có chất lượng và làm việc hiệu quả hơn.
- Tiêu chí về văn bằng, chứng chỉ: Đây là tiêu chí thể hiện trình độ đào tạo, học tập của CBCC trên từng lĩnh vực: chuyên môn, chính trị, quản lý Nhà nước, ngoại ngữ, tin học…. Ở nước ta hiện nay, tùy từng công việc cụ thể mà tuyển dụng, lựa chọn những CBCC có bằng cấp khác nhau. - Tiêu chí về trình độ chính trị, trình độ quản lý Nhà nước: Mỗi vị trí công tác yêu cầu về trình độ chính trị, trình độ quản lý Nhà nước khác nhau. Vì vậy nên khi xem xét đề bạt hay bổ nhiệm CBCC vào vị trí lãnh đạo, quản lý, ngoài tiêu chí về bằng cấp thì tiêu chí về trình độ chính trị, trình độ quản lý Nhà nước cũng có vai trò rất quan trọng.
- Tiêu chí về phẩm chất đạo đức, lập trường tư tưởng: Phẩm chất đạo đức, tác phong, lối sống cũng như lập trường tư tưởng chính trị của CBCC 21 ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của đội ngũ CBCC.