VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN HẢI HÀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH GIÁO DỤC ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT THỤY AN Ngành: Chính sách công Mã số: 8340402 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. ĐẶNG THỊ HOA Hà Nội - 2020 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bối cảnh toàn cầu đang thực hiện Chương trình Nghị sự 2030 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc vì sự phát triển bền vững coi phát triển con người làm trọng tâm với mục tiêu “Để không ai bị bỏ lại phía sau”, đặc biệt là các nhóm yếu thế trong xã hội bao gồm phụ nữ, trẻ em và người khuyết tật, Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó. Ở Việt Nam, trẻ em khuyết tật thường được coi là những đứa trẻ bất bình thường, đó là sự kì thị hiện hữu trong một số bộ phận người dân, khiến cho những trẻ em này bị gạt ra ngoài lề xã hội. Vì phần lớn họ tin rằng các em không có khả năng đóng góp cho xã hội. Cho nên các em không được tiếp cận với các dịch vụ xã hội tối thiểu như y tế, giáo dục, văn hóa nghệ thuật. Đặc biệt, do không được hưởng các cơ hội học tập, không được đến trường nên các em thiếu kiến thức và kĩ năng sống, kéo theo mất cơ hội việc làm và dần mất năng lực tham gia xã hội. Tại điều 7 Công ước về quyền người khuyết tật (Đại hội đồng liên hợp quốc thông qua 13/03/2007) có nêu. Các quốc gia thành viên tiến hành mọi biện pháp cần thiết để bảo đảm cho trẻ em khuyết tật được hưởng trọn vẹn các quyền và tự do cơ bản của con người trên cơ sở bình đẳng với các trẻ em khác. Trong mọi hành động liên quan tới trẻ em khuyết tật, lợi ích tốt nhất của trẻ phải được đặt lên hàng đầu. Các quốc gia thành viên bảo đảm rằng trẻ em khuyết tật có quyền bày tỏ ý kiến một cách tự do về mọi vấn đề ảnh hưởng tới các em, ý kiến của trẻ em phải được cân nhắc thích đáng phù hợp với độ tuổi và sự trưởng thành của các em, trên cơ sở bình đẳng với các trẻ em khác, bảo đảm cung cấp cho các em sự trợ giúp phù hợp với lứa tuổi và với tình trạng khuyết tật để các em thực hiện quyền đó. 1 Các quyền của người khuyết tật đã và đang được thế giới hết sức quan tâm. Quyền của NKT được đảm bảo thực hiện sẽ có ý nghĩa không chỉ đối với người khuyết tật mà còn đối với toàn xã hội. Mọi hoạt động của Nhà nước, xã hội thực hiện các chính sách về y tế, giáo dục, dạy nghề…nhằm hiện thực hóa các quyền của NKT đã nên trong Công ước để giúp NKT hòa nhập xã hội. Người khuyết tật luôn mong muốn được tham gia các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao. Nếu có những chính sách hỗ trợ trong những hoạt động trên thì họ sẽ phát huy những khả năng còn lại của mình để tham gia, điều đó giúp cho NKT đóng góp cho xã hội. Đặc biệt các chính sách liên quan đến giáo dục sẽ trợ giúp cho NKT có được những kiến thức cơ bản và nó sẽ trở thành nền tảng cần thiết và quan trọng để họ có thể tham gia học văn hóa, học nghề. Trong môi trường học tập, NKT sẽ có điều kiện để giao tiếp với thầy cô cũng như bạn bè và những người khác. Đây môi trường tốt nhất và nhanh nhất để NKT phát triển nhận thức và trí tuệ của mình. Để họ cảm thấy luôn được quan tâm, hòa đồng không bị phân biệt đối xử hay xa lánh. Mặt khác, giáo dục giúp NKT có được những kiến thức kỹ năng, sự hiểu biết nên sẽ giúp họ tự tin và chủ động hơn trong cuộc sống, mang lại cho họ những nhận thức đúng đắn để tự tin và có nghị lực vươn lên những khó khăn trong cuộc sống. Chuyển sang giai đoạn phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, Đảng, Nhà nước, chính phủ cũng như các tổ chức chính trị xã hội đã có điều kiện quan tâm nhiều hơn đến người khuyết tật và trẻ em khuyết tật thông qua hàng loạt các chính sách, đạo luật nhằm hỗ trợ người khuyết tật như: Pháp lệnh người khuyết tật được ban hành ngày 30 tháng 7 năm 1998; bộ luật lao động; luật giáo dục; luật phổ cập giáo dục tiểu học; luật dạy nghề; luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em; cùng hệ thống văn bản pháp quy liên quan. Bộ luật lao động sửa đổi, bổ sung và ban hành Luật NKT ngày 17/6/2010 nhằm bảo đảm sự bình đẳng cho NKT, TEKT, dần giúp người khuyết tật, trẻ em khuyết tật 2 đã tiếp cận được các dịch vụ y tế, phục hồi chức năng, giáo dục, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí. Đặc biệt thực hiện chính sách giáo dục đối với trẻ em khuyết tật là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước ta không chỉ đặt làm cam kết quốc gia mà còn có trong Công ước quốc tế. Các chính sách giáo dục đối với NKT được quy định trong Luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác cho thấy việc giáo dục NKT đã được cụ thể hóa và triển khai thực hiện. Tuy nhiên, từ mong muốn đến thực tế, việc thực hiện chính sách giáo dục đối với trẻ em khuyết tật vẫn còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu giải quyết. Do vậy học viên đã lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách giáo dục đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng người khuyết tật Thụy An” làm luận văn thạc sỹ ngành Chính sách công. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề thực hiện thực chính sách giáo dục cho TEKT dưới nhiều góc độ khác nhau được thể hiện dưới các hình thức như: Đề tài khoa học, giáo trình, bài báo, bài đăng tạp chí.Có thể khái quát một số công trình tiêu biểu liên quan đến vấn đề dưới góc độ tiếp cận như sau: Hồ Văn Thông (Chủ biên, 1999), tìm hiểu về khoa học chính sách công, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đây là công trình nghiên cứu tương đối có hệ thống các vần đề về chính sách công dưới góc độ lý thuyết như: khoa học chính sách công và khái niệm về chính sách công; những khuynh hướng phát triển cơ bản của chính sách công; công trình là tài liệu tham khảo quan trọng của luận văn. Nguyễn Đăng Thành (Chủ nhiệm đề tài, 2004), Chính sách công - Cơ sở lý luận, Viện Chính trị học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề về chính sách công như: Lý thuyết chính sách công; các công trình nghiên cứu chính sách công; các cách tiếp cận khi nghiên cứu chính sách công. 3 Nguyễn Hữu Hải (Chủ biên, 2014), Chính sách công - Những vấn đề cơ bản, Nxb chính trị quốc gia, cuốn sách đã đề cập đến chính sách công dưới góc độ chung nhất, bao gồm các vấn đề như: phân tích chính sách công; hoạch định chính sách công; tổ chức thực hiện chính sách công; nhận thức về chính sách công. Tác giả Nguyễn Đức Minh, năm 2015, bài báo “Chính sách giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Việt Nam ”.tài liệu đề cập quan điểm, chính sách về tham gia giáo dục hòa nhập cho TEKT; nêu thực trạng và giải pháp cho chính sách phát triển giáo dục hòa nhập tại Việt Nam. Đề tài ”Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt Nam”, của Nguyễn Hữu Toàn (2010). Tác giả cho rằng trợ giúp xã hội không chỉ là cứu đói, hỗ trợ lương thực, cho cá nhân, hộ gia đình chịu hậu quả thiên tai, chiến tranh, tai nạn, mà còn mở rộng thành các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên. Mỗi hợp phần chính sách lại bao gồm các chính sách bộ phận đặc biệt như chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên tại cộng đồng gồm các chính sách bộ phận là: trợ cấp xã hội hàng tháng, trợ giúp về y tế, trợ giúp về giáo dục, trợ giúp về việc làm, trợ giúp về học nghề. Vụ Pháp chế, Bộ Lao động - Thương binh xã hội và Unicef (2009), “Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em Việt Nam: Đánh giá pháp luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam”. Các tác giả đã rà soát, đánh giá các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến trẻ em Việt Nam, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sách các chuẩn mực quốc tế, tìm ra những thiếu hụt và hạn chế của pháp luật Việt Nam, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, đảm bảo từng bước hòa nhập với pháp luật và các chuẩn mực quốc tế. Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2013), “Báo cáo năm 2013 về hoạt động giúp người khuyết tật Việt Nam”. Báo cáo tổng kết những hoạt động và kết quả 4 chủ yếu về hỗ trợ người khuyết tật đã triển khai trong năm của các bộ, ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội với sự điều phối của ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam, đánh giá tồn tại, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và định hướng cho các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật trong năm 2014 cũng như tiếp tục thúc đẩy thực hiện Luật người khuyết tật và đề án trợ giúp người khuyết tật của các cơ quan, tổ chức thành viên của Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam. Giáo trình “Can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật” do Trần Thị Thiệp, Hoàng Thị Tho và Trần Thị Minh Thành thực hiện năm 2014,do NXB Giáo Dục ấn hành có nội dung trình bày về những vấn đề chung về can thiệp sớm cho trẻ khuyết tật, tổ chức can thiệp và giáo dục hòa nhập cho trẻ khiếm thính, trẻ chậm phát triển trí tuệ, trẻ khó khăn về ngôn ngữ và vận động. Mặc dù đã có nhiều đề tài nghiên cứu về trẻ em, TEKT, nhưng chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống việc thực hiện chính sách giáo dục đối với TEKT ở Việt Nam, do đó việc lựa chọn của em không trùng với các công trình nghiên cứu khác. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.