phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Việc làm và sự cần thiết tạo việc làm cho ngƣời lao động. Chƣơng 2: Phân tích thực trạng tạo việc làm cho ngƣời lao động huyện Từ Liêm. Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tạo việc làm cho ngƣời lao động huyện Từ Liêm đến 2015. VIỆC LÀM VÀ SỰ CẦN THIẾT TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1.
VIỆC LÀM VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG 1. Việc làm Để hiểu rõ khái niệm về việc làm và ngƣời có việc làm, trƣớc hết ta cần tìm hiểu khái niệm về nguồn lao động. Nguồn lao động bao gồm toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, không kể đến trạng thái có việc làm hay không có việc làm, nhƣng có nhu cầu làm việc (Theo thống kê của Liên hiệp quốc, khái niệm này còn gọi là dân số hoạt động kinh tế - populationactive). Nguồn lao động cũng bao gồm cả những ngƣời trên hoặc dƣới tuổi lao động có tham gia lao động (tính quy đổi theo quy định của từng nƣớc).
Mỗi nƣớc có quy định riêng về độ tuổi lao động. Hiện nay, trong Bộ luật lao động nƣớc ta quy định là: nam từ 15 - 60 tuổi, còn nữ từ 15 - 55 tuổi. Về ngƣời trên tuổi lao động quy đổi, thì cứ 2 ngƣời bằng một ngƣời trong tuổi lao động, còn ngƣời dƣới tuổi lao động (chỉ tính từ 13 - 14 tuổi) cứ ba ngƣời từ 13 - 14 tuổi đƣợc tính bằng một ngƣời trong tuổi lao động. Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là một trong những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia, bởi nó ảnh hƣởng trực tiếp đến sự phát triển của một đất nƣớc.
Tăng việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp là một trong những biện pháp quan trọng để từng bƣớc ổn định và nâng cao đời sống nhân dân, đảm bảo phát triển bền vững. Đặc biệt là đối với Việt nam, tốc độ tăng dân số, nguồn lao động cao, trong khi tốc độ tăng trƣởng kinh tế, tạo mở việc làm bị hạn chế do khả năng cung về vốn, TLSX còn thấp. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra khái niệm việc làm theo các chiều cạnh khác nhau: 5 * Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì khái niệm việc làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lƣợng lao động. Khi đó, việc làm đƣợc phân thành hai loại: Có trả công (những ngƣời làm thuê, học việc…) và không đƣợc trả công nhƣng vẫn có thu nhập (ví dụ nhƣ giới chủ làm kinh tế gia đình …).
Vì vậy, việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hịên vật). Những ngƣời có việc làm là những ngƣời làm một việc gì đó có đƣợc trả công, lợi nhuận, đƣợc thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình, không đƣợc nhận tiền công (hiện vật). Khái niệm này đã đƣợc chính thức nêu tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của nhà thống kê lao động (ILO.1993) và đã đƣợc áp dụng ở nhiều nƣớc. Ở nƣớc ta trong thời kỳ bao cấp.
Nhà nƣớc đã đứng ra giải quyết việc làm, trực tiếp quản lý nguồn lao động kể từ khâu đào tạo, phân bổ theo chỉ tiêu pháp lệnh đến việc sử dụng và đãi ngộ đối với ngƣời lao động. Trong giai đoạn ấy, những khái niệm thiếu việc làm, lao động dƣ thừa, việc làm không đầy đủ… hầu nhƣ không đƣợc biết đến. Còn khái niệm “thất nghiệp” dƣới bất kỳ hình thức nào cũng bị coi là điều cấm kỵ. Trong nền kinh tế quốc dân, xu hƣớng quốc doanh hoá đƣợc coi là một điều tất yếu.
Hƣớng phấn đấu của mọi cơ sở sản xuất là chuyển nhanh vào khu vực quốc doanh để mang nhãn hiệu là “thành phần kinh tế XHCN”. Còn đối với mỗi công dân là đứng vào đội ngũ viên chức của Nhà nƣớc (cho dù phải chéo ngành chéo nghề). Do đó việc làm và ngƣời có việc làm đƣợc xã hội thừa nhận và trân trọng là những ngƣời làm việc trong thành phần kinh tế quốc doanh, khu vực Nhà nƣớc và kinh tế tập thể. Khi chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc, thì những quan niệm đó không 6 còn phù hợp nữa.
Quan điểm về việc làm cần đƣợc hiểu là “Hoạt động lao động không bị pháp luật ngăn cấm tạo ra thu nhập hoặc tạo điều kiện cho các thành viên trong hộ gia đình có thêm thu nhập”. Điều này cũng phù hợp với quy định trong điều 13 của Bộ luật lao động của nƣớc CHXHCNVN. * Điều 13, chƣơng II (Việc làm) Bộ luật lao động của nƣớc ta: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Khái niệm việc làm của Bộ luật lao động Việt nam đƣợc cụ thể hoá dƣới ba dạng hoạt động sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lƣơng bằng tiền mặt hoặc hiện vật.
- Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân. - Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhƣng không đƣợc trả thù lao dƣới hình thức tiền lƣơng, tiền công cho công việc đó. Theo khái niệm trên, một hoạt động đƣợc coi là việc làm cần thỏa mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho ngƣời lao động và cho các thành viên trong gia đình. Điều này chỉ rõ tính hữu ích và nhấn mạnh tiêu thức tạo ra thu nhập của việc làm.
Thứ hai, hoạt động đó không bị pháp luật ngăn cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hoạt động có ích không giới hạn về phạm vi, ngành nghề và hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của thị trƣờng lao động ở Việt nam trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Ngƣời lao động hợp pháp ngày nay đƣợc đặt vào vị trí chủ thể, có quyền tự do hành nghề, tự do liên doanh liên kết, tự do tìm kiếm việc làm, tự do thuê mƣớn lao động trong khuôn khổ của pháp luật, không bị phân biệt đối xử dù làm việc trong hay ngoài khu vực Nhà nƣớc.
Điều này khẳng định tính chất pháp lý trong 7 hoạt động của ngƣời lao động thuộc khu vực ngoài Nhà nƣớc và các khu vực phi chính thức. Hai tiêu thức đó có quan hệ chặt chẽ với nhau và là điều kiện cần và đủ để một hoạt động lao động đƣợc thừa nhận là việc làm. Nếu một hoạt động tạo ra thu nhập nhƣng vi phạm pháp luật nhƣ trộm cắp, buôn bán ma tuý… thì không đƣợc thừa nhận là việc làm. Mặt khác một hoạt động dù là hợp pháp và có ích nhƣng không tạo ra thu nhập cũng không đƣợc thừa nhận là việc làm.
Hạn chế của khái niệm trên: Thứ nhất, tính hợp pháp của một hoạt động lao động đƣợc thừa nhận là việc làm tuỳ thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ. Có hoạt động là việc làm ở nƣớc này nhƣng lại không đƣợc thừa nhận là việc làm ở nƣớc khác. Thứ hai, không phải mọi hoạt động có ích và cần thiết cho gia đình và xã hội đều tạo ra thu nhập mặc dù nó góp phần giảm chi tiêu cho gia đình thay vì thuê ngƣời làm công. * Theo Giáo trình Kinh tế kinh tế lao động của Khoa KTLĐ và Dân số - Trƣờng Đại học KTQD Hà nội, khái niệm việc làm đƣợc hiểu là: “Việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”.
Trạng thái phù hợp đƣợc thể hiện thông qua quan hệ tỷ lệ giữa chi phí ban đầu (C) nhƣ nhà xƣởng, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu… và chi phí về sức lao động (V). Quan hệ tỷ lệ bảng diễn sự kết hợp với trình độ công nghệ sản xuất. Khi trình độ công nghệ thay đổi thì sự kết hợp đó cũng thay đổi theo, có thể công nghệ sử dụng nhiều vốn hoặc công nghệ sử dụng nhiều sức lao động. Chẳng hạn, trong điều kiện kỹ thuật thủ công một đơn vị chi phí ban đầu về tƣ liệu sản xuất, vốn có thể kết hợp với nhiều đơn vị sức lao động.
Còn trong điều kiện tự động hoá, sản xuất theo dây chuyền hiện đại thì chi phí về 8 vốn, thiết bị, công nghệ rất cao nhƣng chỉ đòi hỏi sức lao động với tỷ lệ rất thấp. Do đó, tuỳ từng điều kiện cụ thể mà lựa chọn phƣơng án phù hợp để có thể tạo việc làm cho ngƣời lao động. Trong điều kiện của tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự áp dụng các thành tựu của khoa học công nghệ vào sản xuất mạnh mẽ nhƣ hiện nay, quan hệ tỷ lệ giữa C và V thƣờng xuyên biến đổi theo các dạng khác nhau. - Sự phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động có nghĩa là mọi ngƣời có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc đều có việc làm.
Nếu chỉ xem xét trên phƣơng diện sử dụng hết thời gian lao động có nghĩa là việc làm đầy đủ. Trong trƣờng hợp sự phù hợp của mối quan hệ này cho phép sử dụng triệt để tiềm năng về vốn, tƣ liệu sản xuất và sức lao động ta có khái niệm việc làm hợp lý. - Sự không phù hợp giữa chi phí ban đầu và sức lao động sẽ dẫn đến thiếu nguồn nhân lực tức thiếu việc làm và thất nghiệp. Trong luận văn này, tác giả đồng tình với khái niệm “việc làm là phạm trù để chỉ trạng thái phù hợp giữa sức lao động và những điều kiện cần thiết (vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ…) để sử dụng sức lao động đó”.
Trên cơ sở này sẽ phân tích các nhân tố ảnh hƣởng đến tạo việc làm và các mô hình tạo việc làm. Việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp là những phạm trù gắn liền với nhau và gắn liền với ngƣời có khả năng lao động. Vậy thế nào là thiếu việc làm, thất nghiệp, ngƣời có việc làm, ngƣời thiếu việc làm, ngƣời thất nghiệp? Những khái niệm này đƣợc hiểu nhƣ sau: Thiếu việc làm Thiếu việc làm hay còn gọi là bán thất nghiệp hoặc thất nghiệp trá hình, là những ngƣời làm việc ít hơn mức mà mình mong muốn.