Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về đất đai giữ vai trò cốt lõi trong việc điều tiết nguồn tài nguyên tự nhiên có hạn của quốc gia. Tại Việt Nam, với đặc thù ba phần tư diện tích tự nhiên là đồi núi và một phần tư là đồng bằng, quỹ đất đai tương đối hạn hẹp trong khi nhu cầu sử dụng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không ngừng gia tăng. Theo luận điểm của tác giả Nguyễn Thị Chung trong khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý đất đai (Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên), đất đai không có khả năng tái tạo, bị giới hạn về mặt không gian nhưng có giá trị vô hạn về thời gian sử dụng. Do đó, việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý chính thức giữa Nhà nước và người sử dụng đất. Chứng thư pháp lý này không chỉ bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ của chủ sử dụng đất, tạo sự yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh mà còn là căn cứ pháp lý để quản lý việc thu tiền sử dụng đất, tạo nguồn thu ngân sách nhà nước.
Xã Ngọc Quan là một xã miền núi nằm ở phía Tây Nam của huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Địa bàn này có địa hình phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi hệ thống đồi núi xen lẫn đồng ruộng hẹp, đặt ra nhiều thách thức đối với việc quản lý hồ sơ địa chính và triển khai cấp giấy chứng nhận. Xuất phát từ bối cảnh quản lý đất đai thực tế tại cơ sở, đề tài "Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Ngọc Quan - huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017 – 2019" được thực hiện nhằm lượng hóa kết quả đạt được, chỉ ra những mặt thuận lợi, vướng mắc và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định cụ thể như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá toàn diện công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá tình hình cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Ngọc Quan.
- Đánh giá thực trạng kết quả cấp GCNQSDĐ của xã Ngọc Quan giai đoạn 2017 – 2019 theo thời gian và theo từng loại đất.
- Đánh giá nhận thức và mức độ am hiểu về công tác cấp GCNQSDĐ thông qua việc thu thập ý kiến của cán bộ chuyên trách và người dân địa phương.
- Xác định những thuận lợi, khó khăn trong công tác cấp GCNQSDĐ và đề xuất các giải pháp quản lý nâng cao hiệu quả thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:
- Đối tượng nghiên cứu: Kết quả công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các cá nhân là chủ sử dụng đất trên địa bàn xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu phục vụ đánh giá công tác cấp GCNQSDĐ được giới hạn trong giai đoạn từ năm 2017 đến hết năm 2019. Thời gian tác giả thực hiện khảo sát, thu thập thông tin và hoàn thiện khóa luận diễn ra từ ngày 02/01/2020 đến ngày 12/05/2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được xây dựng trên hệ thống cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đất đai kết hợp chặt chẽ với khung pháp lý hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:
- Khung lý thuyết và khái niệm:
- Nội dung quản lý Nhà nước về đất đai: Áp dụng quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 với 15 nội dung quản lý nhà nước (từ ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đo đạc lập bản đồ, đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ đến thanh tra, xử lý vi phạm).
- Quyền chung của người sử dụng đất: Căn cứ Điều 166 Luật Đất đai năm 2013, khẳng định quyền được cấp GCNQSDĐ, sở hữu tài sản gắn liền với đất và bảo hộ khi bị xâm phạm quyền hợp pháp.
- Khái niệm Giấy chứng nhận: Khẳng định đây là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp.
- Nguyên tắc, thẩm quyền và điều kiện cấp giấy: Dựa trên Điều 98 (nguyên tắc cấp giấy theo từng thửa đất, đứng tên đồng sở hữu), Điều 99 (các trường hợp đủ điều kiện cấp giấy) và Điều 105 (thẩm quyền cấp GCNQSDĐ của UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện) thuộc Luật Đất đai năm 2013.
- Hệ thống văn bản pháp lý áp dụng:
- Luật Đất đai số 45/2013/QH13 ngày 29/11/2013.
- Các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Nghị quyết số 755/2003/NQ-UBTVQH11 và Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11.
- Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai); Nghị định số 44/2014/NĐ-CP (về giá đất); Nghị định số 45/2014/NĐ-CP (thu tiền sử dụng đất); Nghị định số 46/2014/NĐ-CP (thu tiền thuê đất, thuê mặt nước); Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (bồi thường, hỗ trợ, tái định cư); Nghị định số 01/2017/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung các nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai).
- Các Thông tư của Bộ Tài nguyên và Môi trường: Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT; Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT.
- Các Thông tư của Bộ Tài chính: Thông tư số 76/2014/TT-BTC và Thông tư số 77/2014/TT-BTC.
- Văn bản quy định tại địa phương: Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND ngày 19/05/2014 của UBND tỉnh Phú Thọ ban hành quy định về đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp GCNQSDĐ và đăng ký biến động đất đai trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu bao gồm:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập số liệu thống kê điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các báo cáo kiểm kê đất đai, quy hoạch và hồ sơ cấp GCNQSDĐ lưu trữ tại UBND xã Ngọc Quan và các cơ quan cấp huyện.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:
- Khảo sát bằng phiếu điều tra thiết kế sẵn đối với toàn bộ cán bộ công chức xã Ngọc Quan với quy mô $n_1 = 15$ phiếu.
- Khảo sát bằng phiếu phỏng vấn đối với người sử dụng đất trên địa bàn (tập trung vào các khu vực có biến động đất đai) với quy mô $n_2 = 55$ phiếu.
- Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
- Phương pháp thống kê: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tổng hợp dữ liệu thứ cấp và sơ cấp, lập các bảng cơ cấu số lượng, diện tích và tỷ lệ phần trăm.
- Phương pháp kế thừa: Tiếp thu và sử dụng các kết quả nghiên cứu, báo cáo chuyên đề đã công bố của ngành quản lý đất đai.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu chỉ tiêu thực hiện giữa các năm 2017, 2018, 2019 và so sánh nhận thức pháp lý giữa hai nhóm đối tượng cán bộ và người dân.
- Phương pháp tổng hợp và viết báo cáo: Phân tích định tính kết hợp định lượng để làm rõ thực trạng quản lý và cấp giấy chứng nhận tại địa phương.
Nội dung chính theo từng phần của khóa luận
Phần I: Mở đầu
Tác giả xác định vai trò chiến lược của đất đai đối với đời sống kinh tế - xã hội, nêu bật sức ép quản lý đất đai trong bối cảnh diện tích đất đai có hạn. Khẳng định vị trí của công tác cấp GCNQSDĐ trong việc bảo vệ quyền lợi người sử dụng, tăng cường nguồn thu thuế và lệ phí đất đai cho ngân sách. Đặt ra mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài đối với quá trình học tập của sinh viên cũng như công tác quản lý địa chính tại địa phương.
Phần II: Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Phần này trình bày có hệ thống cơ sở lý luận về 15 nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo Điều 22 Luật Đất đai 2013 và cơ sở thực tiễn về mối quan hệ giữa đăng ký đất đai với hệ thống hồ sơ địa chính. Tổng hợp đầy đủ các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương và quyết định quản lý của UBND tỉnh Phú Thọ.
Phân tích rõ quy trình, thủ tục cấp giấy theo Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ:
- Thời gian thực hiện tại UBND cấp xã không quá 12 ngày làm việc (kiểm tra hồ sơ, xác nhận nguồn gốc, tình trạng tranh chấp); niêm yết công khai tại trụ sở và khu dân cư 15 ngày làm việc.
- Thời gian giải quyết tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất: tối đa 07 ngày làm việc đối với đăng ký đất đai; tối đa 04 ngày làm việc đối với trường hợp cấp GCNQSDĐ (chuyển thông tin thuế và chuẩn bị hồ sơ).
- Thời gian xác định nghĩa vụ tài chính tại cơ quan thuế không quá 05 ngày làm việc.
- Thời gian kiểm tra, thẩm tra của Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện không quá 03 ngày làm việc.
- Thời gian ký duyệt cấp giấy của UBND cấp huyện trong vòng 02 ngày làm việc; vào sổ và trao trả kết quả trong vòng 02 ngày làm việc.
Đồng thời, phần tổng quan cũng cung cấp số liệu bối cảnh toàn quốc (tính đến năm 2015, cả nước cấp được 41,8 triệu GCNQSDĐ với tổng diện tích 22,9 triệu ha, đạt 94,9% diện tích cần cấp) và số liệu tỉnh Phú Thọ (tính đến ngày 31/12/2013 đã cấp 672.549 GCN với diện tích 233.691,27 ha, đạt 88,5% diện tích cần cấp).
Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là kết quả cấp GCNQSDĐ cho các cá nhân tại xã Ngọc Quan; thời gian nghiên cứu từ ngày 02/01/2020 đến ngày 12/05/2020. Chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu lớn: phân tích điều kiện cơ bản của xã; đánh giá kết quả cấp giấy theo thời gian và loại đất giai đoạn 2017 – 2019; đánh giá qua ý kiến khảo sát cán bộ ($n=15$) và người dân ($n=55$); chỉ ra thuận lợi, khó khăn và giải pháp. Trình bày chi tiết các bước thu thập thông tin thứ cấp, lập mẫu phiếu điều tra sơ cấp và kỹ thuật xử lý dữ liệu trên bảng tính Excel.
Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung này trình bày các phát hiện thực nghiệm và phân tích dữ liệu cụ thể tại xã Ngọc Quan qua 4 tiểu mục:
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Ngọc Quan
Xã Ngọc Quan có tổng diện tích tự nhiên là 1.421,69 ha, gồm 12 khu dân cư. Dân số năm 2019 đạt 6.851 người với 1.858 hộ, gồm 8 dân tộc cùng sinh sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm trên 17%. Lực lượng lao động đạt 4.231 người (lao động nông nghiệp chiếm 75,89%, lao động phi nông nghiệp chiếm 24,11%). Mật độ dân số bình quân 428 người/km². Về kinh tế, thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 36 triệu đồng/người/năm; tổng thu ngân sách trên địa bàn xã đạt 460,3 triệu đồng.
Đặc điểm địa hình phức tạp, nhiều đồi núi xen thung lũng, độ dốc lớn thuận lợi cho mô hình kinh tế nông - lâm kết hợp nhưng gây trở ngại cho giao thông, xây dựng thủy lợi và cơ giới hóa nông nghiệp. Hệ thống thủy văn phụ thuộc vào sông Lô và các khe suối có độ dốc lớn, lưu lượng biến động theo mùa.
2. Hiện trạng sử dụng đất và công tác quản lý nhà nước về đất đai
Theo số liệu thống kê hiện trạng sử dụng đất xã Ngọc Quan tính đến ngày 31/12/2019 (Bảng 4.1 của khóa luận), quỹ đất của xã được phân bổ cụ thể:
- Nhóm đất nông nghiệp (NNP): Tổng diện tích 1.216,58 ha (chiếm phần lớn diện tích tự nhiên). Bao gồm đất sản xuất nông nghiệp 520,62 ha (đất trồng cây hàng năm 247,39 ha, trong đó đất lúa là 219,43 ha; đất trồng cây lâu năm 273,23 ha); đất lâm nghiệp 657,27 ha (đất rừng sản xuất 631,2 ha, đất rừng phòng hộ 26,07 ha); đất nuôi trồng thủy sản 22,57 ha; đất nông nghiệp khác 15,11 ha.
- Nhóm đất phi nông nghiệp (PNN): Tổng diện tích 203,34 ha. Bao gồm đất ở tại nông thôn 39,81 ha; đất chuyên dùng 144,17 ha (đất quốc phòng 29,2 ha, đất sản xuất kinh doanh 51,4 ha, đất công cộng 61,3 ha, trụ sở cơ quan 0,2 ha...); đất nghĩa trang 7,5 ha; đất sông ngòi, kênh rạch 5,4 ha; đất có mặt nước chuyên dùng 6,4 ha.
- Nhóm đất chưa sử dụng (CSD): Diện tích còn lại là 1,08 ha (gồm đất bằng chưa sử dụng và đất đồi núi chưa sử dụng).
Trong công tác quản lý nhà nước: Năm 2019 xã hoàn thành công tác kiểm kê đất đai, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất; rà soát hồ sơ bổ sung quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2020 – 2023. Năm 2018, xã phối hợp thực hiện thu hồi đổi được 156 GCNQSDĐ cũ sang phôi mới; hoàn thiện hồ sơ chuyển mục đích sử dụng 0,48 ha đất nông nghiệp sang đất ở và chuyển 3,7 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng chè (đạt 100% kế hoạch); phê duyệt phương án dự toán giải phóng mặt bằng cho 01 công trình đường giao thông liên xã.
3. Thực trạng cấp GCNQSDĐ tại xã Ngọc Quan giai đoạn 2017 – 2019
Số liệu tổng hợp được phân tích trên hai khía cạnh tiến độ thời gian và cơ cấu loại đất:
| Chỉ tiêu theo năm |
Số hồ sơ tiếp nhận |
Số GCNQSDĐ đã cấp |
Tỷ lệ diện tích đạt (%) |
| Năm 2017 |
230 |
202 |
61,4 |
| Năm 2018 |
237 |
220 |
68,4 |
| Năm 2019 |
113 |
94 |
36,9 |
| Tổng giai đoạn 2017 – 2019 |
580 |
516 |
166,8 |
Ghi chú số liệu cấp giấy theo địa bàn thôn qua các năm:
- Năm 2017: Cấp được 202 giấy; trong đó Thôn 7 cấp nhiều nhất (30 giấy, đạt 9,8% diện tích cần cấp), Thôn 9 cấp 18 giấy (4,4%), Thôn 1 cấp thấp nhất (8 giấy, 3,6%).
- Năm 2018: Cấp được 220 giấy; Thôn 5 cấp nhiều nhất (30 giấy, đạt 10,3% diện tích cần cấp); các thôn có kết quả thấp gồm Thôn 1 (8 giấy, 1,5%), Thôn 7 (9 giấy, 1,7%), Thôn 10 (9 giấy, 2,0 ha, đạt 80% diện tích cần cấp của thôn).
- Năm 2019: Cấp được 94 giấy; Thôn 13 đạt 14 giấy (6,2% diện tích cần cấp), Thôn 5 cấp 11 giấy (6,9 ha, đạt 92%), Thôn 3 cấp thấp nhất với 3 giấy (0,6 ha, đạt 50%).
Phân bổ kết quả cấp GCNQSDĐ theo mục đích sử dụng đất trong giai đoạn 2017 – 2019:
| Mục đích sử dụng đất |
Năm 2017 (GCN / ha) |
Năm 2018 (GCN / ha) |
Năm 2019 (GCN / ha) |
Tổng giai đoạn (GCN / ha) |
| Đất ở |
85 / 15,6 |
107 / 19,9 |
53 / 19,39 |
245 / 48,7 |
| Đất sản xuất nông nghiệp |
60 / 25,3 |
71 / 33,3 |
17 / 11,8 |
148 / 70,4 |
| Đất lâm nghiệp (rừng) |
55 / 20,1 |
40 / 15,2 |
24 / 11,4 |
119 / 46,7 |
| Đất nuôi trồng thủy sản |
2 / 0,2 |
2 / 0,1 |
0 / 0 |
4 / 0,3 |
4. Đánh giá nhận thức qua điều tra cán bộ và người dân
Kết quả điều tra 15 cán bộ xã (Bảng 4.7) và 55 người dân (Bảng 4.8) thể hiện mức độ nắm bắt kiến thức chuyên môn và thủ tục hành chính:
| Nội dung khảo sát |
Tỷ lệ cán bộ trả lời Đúng (%) |
Tỷ lệ cán bộ trả lời Sai (%) |
Tỷ lệ người dân Đúng (%) |
Tỷ lệ người dân Sai (%) |
Tỷ lệ người dân Không biết (%) |
| Hiểu biết chung về GCNQSDĐ |
100,00 |
0,00 |
74,55 |
14,55 |
10,90 |
| Điều kiện cấp GCNQSDĐ |
100,00 |
0,00 |
75,36 |
9,09 |
14,55 |
| Trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ |
93,33 |
6,67 |
78,18 |
14,55 |
7,27 |
| Nội dung ghi trên GCNQSDĐ |
86,67 |
13,33 |
74,54 |
12,73 |
12,73 |
| Ký hiệu loại đất trên bản đồ/giấy |
100,00 |
0,00 |
80,00 |
16,36 |
3,64 |
| Quy định về cấp mới giấy tờ |
80,00 |
20,00 |
74,55 |
23,64 |
1,81 |
| Thẩm quyền cấp GCNQSDĐ |
86,67 |
13,33 |
78,18 |
16,36 |
5,46 |
5. Thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp
- Thuận lợi: Nhận được sự quan tâm chỉ đạo trực tiếp của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Đoan Hùng và Đảng ủy, UBND xã Ngọc Quan; có sự hỗ trợ về mặt chuyên môn nghiệp vụ trong quản lý đất đai; đội ngũ cán bộ địa chính xã có trách nhiệm; công tác tuyên truyền được chú trọng giúp ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân từng bước nâng lên.
- Khó khăn: Khối lượng công việc phát sinh lớn, tính chất quản lý phức tạp; công tác đo đạc lập bản đồ địa chính không được tiến hành đồng thời với cấp đổi, cấp mới mà để kéo dài qua nhiều năm làm nảy sinh biến động đất đai ngoài thực địa; tài liệu hồ sơ địa chính cũ bị thất lạc; công tác quản lý tại cơ sở thôn xóm từng có giai đoạn buông lỏng dẫn tới việc tự ý chuyển nhượng hoặc làm nhà trái phép trên đất nông nghiệp chưa giải quyết dứt điểm; việc đo đạc ranh giới còn xảy ra hiện tượng chồng lấn giáp ranh giữa các đơn vị; chính sách luân chuyển cán bộ địa chính giữa các thời kỳ gây nên tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, tồn đọng và ngâm hồ sơ của người dân.
Phần V: Kết luận và đề nghị
Khẳng định kết quả cấp được 516 GCNQSDĐ tại xã Ngọc Quan giai đoạn 2017 – 2019 đã góp phần ổn định quản lý nhà nước về đất đai. Đề nghị các cấp có thẩm quyền hoàn thiện cơ sở dữ liệu địa chính, hỗ trợ kinh phí chỉnh lý bản đồ và giải quyết dứt điểm các trường hợp tồn đọng vi phạm trật tự xây dựng trên đất nông nghiệp.
Kết quả và đóng góp của nghiên cứu
Khóa luận đã tổng hợp được hệ thống số liệu định lượng chi tiết phản ánh kết quả quản lý đất đai thực tế tại địa bàn cơ sở cấp xã:
- Kết quả cấp giấy chứng nhận định lượng: Trong giai đoạn 3 năm (2017 – 2019), toàn xã đã tiếp nhận và giải quyết cấp 516 GCNQSDĐ. Hoạt động cấp giấy diễn ra mạnh nhất trong hai năm 2017 và 2018 (lần lượt là 202 giấy và 220 giấy), sau đó giảm đáng kể vào năm 2019 (còn 94 giấy).
- Cơ cấu loại đất được hợp thức hóa quyền sử dụng: Đất ở chiếm ưu thế lớn nhất về số lượng giấy được cấp với 245 GCN (đạt 48,7 ha), phản ánh nhu cầu xác lập quyền tài sản nhà ở của hộ gia đình nông thôn. Tiếp theo là đất sản xuất nông nghiệp với 148 GCN (đạt diện tích lớn nhất là 70,4 ha), đất lâm nghiệp với 119 GCN (46,7 ha), và đất nuôi trồng thủy sản được cấp số lượng ít nhất với 4 GCN (0,3 ha).
- Kết quả điều tra nhận thức: Cung cấp bức tranh phân hóa nhận thức giữa đội ngũ công chức và cộng đồng dân cư. Trong khi cán bộ xã nắm vững kiến thức căn bản (100% nắm rõ định nghĩa, điều kiện cấp và ký hiệu đất; từ 80% đến 93,33% nắm chắc trình tự và thẩm quyền), thì người dân vẫn có tỷ lệ trả lời sai hoặc không biết dao động từ 20% đến gần 25% ở các nội dung về điều kiện cấp, thẩm quyền và quy định cấp mới.
- Đóng góp của tác giả:
- Hệ thống hóa toàn bộ diễn biến cấp giấy theo từng thôn trong xã, chỉ ra sự chênh lệch rõ rệt về tiến độ giữa các thôn (ví dụ Thôn 5, Thôn 7, Thôn 13 đạt tiến độ cao trong khi Thôn 1, Thôn 3 đạt thấp).
- Phản ánh trung thực các nút thắt trong công tác quản lý địa chính tại địa phương: tình trạng không đồng bộ giữa đo đạc bản đồ với cấp giấy, hồ sơ lưu trữ bị thất lạc, hệ quả của các vi phạm sử dụng đất nông nghiệp từ thời kỳ trước và hạn chế nảy sinh do chính sách luân chuyển cán bộ địa chính dẫn đến việc chậm trễ hồ sơ hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận thể hiện các giới hạn nội tại gắn liền với phạm vi và nguồn lực nghiên cứu được tác giả đề cập trong văn bản:
- Hạn chế về dữ liệu và phạm vi mẫu điều tra:
- Khảo sát xã hội học đối với người dân mới chỉ thực hiện trên cỡ mẫu 55 hộ gia đình, tập trung chủ yếu tại các khu vực có biến động đất đai, chưa bao quát được toàn diện tỷ lệ đại diện cho 1.858 hộ dân thuộc 12 khu dân cư trong toàn xã.
- Số liệu đánh giá thực trạng cấp giấy chứng nhận dừng lại ở mốc thời gian năm 2019; chưa cập nhật được tình hình triển khai sau thời điểm hoàn thành kiểm kê đất đai năm 2019 và việc ban hành quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2020 – 2023.
- Tác giả tự đánh giá do kiến thức chuyên môn và kinh nghiệm thực tế tại địa phương còn hạn chế nên chưa phân tích sâu được chi phí tài chính phát sinh và biến động nghĩa vụ tài chính cụ thể của từng hộ gia đình khi thực hiện cấp giấy.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Nghiên cứu giải pháp kỹ thuật chỉnh lý biến động bản đồ địa chính đồng bộ với cơ sở dữ liệu số trên phần mềm chuyên ngành tài nguyên môi trường.
- Đánh giá tác động pháp lý và kinh tế sau khi cấp GCNQSDĐ (tỷ lệ tham gia giao dịch chuyển nhượng, thế chấp vay vốn ngân hàng của người dân tại địa bàn miền núi).
- Mở rộng phạm vi đánh giá, so sánh kết quả cấp GCNQSDĐ của xã Ngọc Quan với các xã lân cận trong huyện Đoan Hùng (như Phong Phú, Yên Kiện, Ca Đình).
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận cung cấp các tư liệu thực chứng hữu ích phục vụ học thuật và thực tiễn chuyên môn:
- Đối tượng tham khảo:
- Sinh viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên và môi trường, Luật Đất đai làm tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng báo cáo tốt nghiệp, thiết kế đề cương nghiên cứu đánh giá công tác quản lý địa chính cấp cơ sở xã.
- Cán bộ địa chính - xây dựng cấp xã, công chức Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đoan Hùng hoặc các địa phương có điều kiện tự nhiên - kinh tế tương đồng tại vùng trung du và miền núi Bắc Bộ.
- Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Mô hình tổng hợp bảng biểu: Phương pháp biểu diễn dữ liệu hiện trạng sử dụng đất (Bảng 4.1), bảng tổng hợp kết quả cấp giấy theo từng thôn và theo từng năm (Bảng 4.2 đến Bảng 4.5), bảng phân loại kết quả theo loại đất (Bảng 4.6).
- Bộ câu hỏi khảo sát nhận thức: Mẫu phiếu điều tra và hệ thống 7 tiêu chí đo lường mức độ hiểu biết pháp luật đất đai của cán bộ và nhân dân (Bảng 4.7 và 4.8), có thể tái sử dụng để xây dựng công cụ khảo sát cho các nghiên cứu quản lý hành chính công tại địa phương khác.
- Quy trình nghiệp vụ địa phương: Bản tổng hợp chi tiết về phân công nhiệm vụ và thời gian giải quyết thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận theo Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ.
Câu hỏi thường gặp
1. Trong giai đoạn 2017 – 2019, xã Ngọc Quan đã cấp được bao nhiêu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tiến độ phân bổ qua các năm ra sao?
Trong giai đoạn 2017 – 2019, toàn xã Ngọc Quan đã cấp được tổng cộng 516 GCNQSDĐ. Phân bổ qua từng năm như sau: Năm 2017 cấp được 202 GCNQSDĐ (đạt 61,4% diện tích cần cấp); năm 2018 cấp được 220 GCNQSDĐ (đạt 68,4% diện tích cần cấp); năm 2019 cấp được 94 GCNQSDĐ (đạt 36,9% diện tích cần cấp).
2. Loại đất nào chiếm số lượng Giấy chứng nhận và diện tích được cấp lớn nhất tại xã Ngọc Quan giai đoạn 2017 – 2019?
Theo Bảng 4.6 của khóa luận, xét về số lượng giấy chứng nhận thì đất ở được cấp nhiều nhất với 245 GCN (tổng diện tích 48,7 ha). Tuy nhiên, xét về quy mô diện tích thì đất sản xuất nông nghiệp chiếm diện tích được cấp lớn nhất với 70,4 ha (tương ứng với 148 GCN).
3. Kết quả khảo sát cho thấy nội dung nào cán bộ và người dân xã Ngọc Quan còn tỷ lệ trả lời sai cao nhất?
Đối với cán bộ xã (Bảng 4.7), nội dung có tỷ lệ trả lời sai cao nhất là quy định về "cấp mới" GCNQSDĐ với 20,00% số phiếu sai. Đối với người dân (Bảng 4.8), nội dung có tỷ lệ trả lời sai cao nhất cũng là quy định về "cấp mới" với 23,64% số phiếu trả lời sai (và 1,81% không biết).
4. Những nguyên nhân chủ quan nào trong quản lý địa chính đã gây cản trở công tác cấp GCNQSDĐ tại xã Ngọc Quan?
Khóa luận chỉ ra các nguyên nhân chủ quan gồm: công tác đo đạc bản đồ địa chính không được làm đồng thời với việc cấp đổi, cấp mới dẫn đến ranh giới biến động; hồ sơ địa chính thời kỳ trước bị thất lạc; việc xử lý vi phạm làm nhà trái phép trên đất nông nghiệp trước đây thiếu kiên quyết; tình trạng đo đạc chồng lấn ranh giới; và việc luân chuyển cán bộ địa chính dẫn đến tâm lý đùn đẩy trách nhiệm, kéo dài thời gian giải quyết hồ sơ.
5. Thời gian giải quyết thủ tục đăng ký đất đai lần đầu tại UBND cấp xã được quy định tối đa bao nhiêu ngày làm việc theo văn bản áp dụng tại tỉnh Phú Thọ?
Theo quy định tại Quyết định số 23/2014/QĐ-UBND của UBND tỉnh Phú Thọ được trích dẫn trong khóa luận, thời gian giải quyết tại UBND cấp xã không quá 12 ngày làm việc để kiểm tra hồ sơ, xác nhận nguồn gốc, tình trạng tranh chấp và sự phù hợp quy hoạch; sau đó phải thực hiện niêm yết công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở xã và khu dân cư trong thời hạn 15 ngày.
Kết luận
Khóa luận của sinh viên Nguyễn Thị Chung đã phản ánh chi tiết thực trạng công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Ngọc Quan, huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2017 – 2019 với tổng số 516 giấy chứng nhận được cấp. Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ việc phân tích số liệu địa chính thứ cấp với kết quả điều tra thực địa trên 15 cán bộ và 55 hộ dân, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa nhận thức pháp luật và tiến độ xử lý hồ sơ hành chính. Các khó khăn được phát hiện từ thực tiễn địa phương—đặc biệt là tình trạng thất lạc hồ sơ cũ, bản đồ biến động và việc luân chuyển cán bộ—cung cấp cơ sở thực tế có giá trị phục vụ cho việc hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về đất đai tại cấp cơ sở.