MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng [10]. Chúng ta biết rằng không có đất thì không có quá trình sản xuất, cũng như không có sự tồn tại của con người và đất có vai trò đặc biệt quan trọng với sản xuất nông nghiệp. Nông nghiệp là một hoạt động có từ xa xưa của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển của các ngành khác.
Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có hiệu quả là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển bền vững [12]. Cùng với sự phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa làm cho mật độ dân cư ngày càng tăng, dẫn đến nhu cầu về nhà ở cũng như đất xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp trong nước ngày càng tăng cao. Đây là vấn đề gây “bức xúc” và “nhức nhối” không chỉ đối với nước ta mà còn là vấn đề nan giải đối với các nước đã và đang phát triển trên thế giới. Để giải quyết vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho trình những chương trình, kế hoạch, chiến lược riêng phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện của mình để sử dụng đất đai được hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả.
Trong những năm qua, đã có nhiều biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai như: giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho người sử dụng đất, hoàn thiện hệ thống thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hóa các giống cây trồng có năng suất cao đưa vào sản xuất, nhờ đó mà hiệu quả sử dụng đất tăng lên rõ rệt. Tuy 2 nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì vẫn có những hạn chế trong việc khai thác và sử dụng đất đai. Vì vậy để sử dụng đất có hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển sản xuất nông nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế, cần phải có nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nói chung và sử dụng đất ruộng nói riêng nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ đó làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Xã Thẩm Dương có tổng diện tích đất tự nhiên là 520 ha, trong đó có khoảng 350 ha đất nông nghiệp.
Lao động và thu nhập chủ yếu từ hoạt động nông nghiệp. Vì vậy, việc định hướng cho người dân khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại hình sử dụng rất thích hợp là việc rất quan trọng. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và nhu cầu sử dụng đất, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên – trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đồng thời với sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS.Nguyễn Đức Nhuận, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Thẩm Dƣơng, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai”.
Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá thực trạng và hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sủ dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. 3 - Đề xuất các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả đáp ứng nhu cầu cho phát triển kinh tế - xã hội xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sử dụng đất của xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. - Định hướng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai.
Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội đầy đủ và chính xác, các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thống nhất và hệ thống. - Đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp thông qua một số chỉ tiêu phù hợp với điều kiện cụ thể của xã Thẩm Dương, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. - Các giải pháp đề xuất phải hợp lý về mặt khoa học và phải có tính thực thi. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học trong nhà trường và bước đầu áp dụng trong thực tiễn, phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường.
Ý nghĩa trong thực tiễn: Đáp ứng được vấn đề cấp bách của xã, giúp UBND xã xây dựng một phương án quy hoạch sử dụng đất đai khoa học, hợp lý và có hiệu quả cho xã. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 2. Quá trình hình thành đất Đá mẹ duới tác dụng của các yếu tố ngoại cảnh bị phá huỷ tạo thành mẫu chất, mẫu chất chưa phải là đất vì còn thiếu một hợp phần vô cùng quan trọng là chất hữu cơ.
Trước khi có sinh vật, trái đất lúc đó chỉ bao gồm lứp vỏ toàn đá. Dưới tác dụng của mưa, các sản phẩm vỡ vụn của đá bị trôi xuống nơi thấp hơn và lắg đọng ở đó hoặc ở ngoài đại dương. Sự vận động của vỏ trái đất có thể làm nổi những vùng đá trầm tích đó lên và lại tiếp tục chu trình như trên người ta gọi đó là Đại tuần hoàn đại chất. Đây là một quá trình tạo lập đá đơn thuần và xảy ra theo một chu trình khép kín và rộng khắp.
Khi trên trái đất xuất hiện sinh vật, sinh vật đã hút chất dinh dưỡng từ những mẫu chất do đá vỡ vụn ra để sinh sống và khi chết đi tạo lên một lượng chất hữu cơ. Cứ như vậy, sinh vật ngày càng phát triển và lượng chất hữu cơ ngày càng nhiều, nó đã biến mẫu chất thành đất. Người ta gọi đó là Tiểu tuần hoàn sinh vật. Sự thống nhất giữa Đại tuần hoàn địa chất và Tiểu tuần hoàn sinh vật đã tạo ra đất và đó cũng chính là bản chất của quá trình hình thành đất.
Khái niệm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp là tất cả những diện tích được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, diện tích nghiên cứu thí nghiệm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Kể cả diện tích đất lâm nghiệp và các công trình xây dựng cơ bản phục vụ cho sản xuất nông lâm nghiệp. Phân loại đất nông nghiệp Theo Luật Đất đai 2013 [10] nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại như sau: + Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là loại đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: * Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch được 3vụ/năm với các công thức 3 vụ lúa, 2 vụ lúa + 1 vụ màu,.
* Đất 2 vụ có công thức luân canh như : lúa – lúa, lúa – màu, màu - màu,. * Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được 1 vụ lúa hay 1 vụ màu/năm. Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn đựơc phân theo các tiêu thức khác và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu,. + Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, phải trải qua thời lỳ kiến thiết cơ bản mới đưa vào kinh doanh, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm.
+ Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất. + Đất rừng phòng hộ là diện tích đất để trồng rừng với mục đích phòng hộ. + Đất rừng đặc dụng là diện tích đất được Nhà nước quy hoạch, đưa vào sử dụng với mục đích riêng. + Đất nuôi trồng thuỷ sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thuỷ sản như tôm, cua, cá.
+ Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong nông nghiệp Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về 6 tầm quan trọng của đất C.Mac viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, kho tàng cung cấp các tư liệu lao động vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (C. Đối với nông nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất là điều kiện vật chất đồng thời là đối tượng lao động ( luôn chịu tác động trong quá trình sản xuất như : cày, bừa, xới, xáo,.) và công cụ lao động hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi,.
Quá trình sản xuất luôn có mối quan hệ chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất. Thực tế cho thấy, trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh, các thành tựu khoa học công nghệ đều đựơc xây dựng trên nền tảng cơ bản sử dụng đất. Trong nông nghiệp ngoài vai trò là cơ sở không gian đất còn có chức năng đặc biệt quan trọng: - Là đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của con người trong quá trình sản xuất.