Chương 1: Giới thiệu chung về nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về quản trị công ty, thông tin bất đối xứng và hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu 3 Chương 5: Kiến nghị 1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết dự kiến H1: có mối quan hệ giữa thông tin bất đối xứng và hiệu quả hoạt động ngân hàng H2: có mối quan hệ giữa quản trị công ty và thông tin bất đối xứng H3: có mối quan hệ giữa quản trị công ty và hiệu quả hoạt động ngân hàng Hình 1.1: Mô hình nghiên cứu dự kiến 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY, THÔNG TIN BẤT ĐỐI XỨNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về quản trị công ty 2.
Các định nghĩa về quản trị công ty Các nhà nghiên cứu đã có nhiều định nghĩa về quản trị công ty. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu thường phân chia định nghĩa quản trị công ty theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Financial Times (1997) coi “quản trị công ty có thể được hiểu theo nghĩa hẹp là quan hệ của một công ty với các cổ đông, hoặc theo nghĩa rộng là quan hệ của công ty với xã hội…”. Các nhà nghiên cứu định nghĩa quản trị công ty theo nghĩa hẹp có thể kể đến những nghiên cứu của Macey (2008); Mathiesen (2002); Shleifer và Vishny (1997); Maw (1994).
Theo Mathiesen (2002) thì “quản trị công ty thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính”. Còn theo Shleifer và Vishny (1997) thì “quản trị công ty giải quyết vấn đề cách thức các nhà cung cấp tài chính cho công ty đảm bảo quyền lợi của mình để có thể thu về lợi tức từ các khoản đầu tư của mình”. Theo tác giả khác như Macey (2008) thì “mục đích của QTCT để giảm những hoạt động rủi ro, trái luật của nhà quản lý và trái với kỳ vọng của nhà đầu tư”. Các nhà nghiên cứu định nghĩa QTCT theo nghĩa rộng được đề cập trong nhiều nghiên cứu, có thể kể đến các định nghĩa của Mulbert (2010); Wells (2010); Stuart Gillian (2006); Hillary Sale (2004), Luigi Zingales (1998).
Ví dụ, tác giả Mulbert (2010) coi “QTCT là quá trình ra quyết định của Hội đồng quản trị và các nhà quản lý cao cấp nhằm đạt được mục tiêu của công ty và cổ đông”. Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu này, QTCT được định nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ giữa quản lý của một công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông và các bên liên quan khác. Một cơ chế QTCT được coi là phù hợp khi đảm bảo được hoạt động của HĐQT và các nhà quản lý theo đuổi mục tiêu vì lợi ích của công ty và cổ đông của mình. Stuart Gillian (2006) cho rằng “QTCT gắn liền với việc giải quyết Thuyết đại diện, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý”.
Bên cạnh đó, Stuart Gillian (2006) cho rằng 5 “có sự tách biệt giữa đối tượng bên trong hoặc bên ngoài cung cấp vốn với các đối tượng quản lý và sự cần thiết phải có cơ chế để đảm bảo HĐQT không thực hiện các hoạt động kinh doanh rủi ro ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp”. Một định nghĩa khác của Wells (2010) khẳng định “QTCT là cơ chế để nhằm giảm thiểu các vấn đề do việc chia tách quyền sở hữu và kiểm soát”. Nói cách khác, QTCT thực hiện chức năng kiểm tra các vấn đề liên quan đến pháp lý, kinh tế, cơ chế xã hội nhằm thúc đẩy các nhà quản lý thực thi công việc đảm bảo lợi ích của cổ đông và phát triển công ty. Từ hai cách tiếp cận trên, ta nhận thấy tuy các nhà nghiên cứu có những cách tiếp cận khác nhau về QTCT theo nghĩa hẹp và rộng nhưng giữa hai cách tiếp cận này vẫn có những điểm tương đồng.
Thứ nhất, cơ cấu của bộ máy quản lý công ty xác định sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong công ty. Cấu trúc QTCT hoàn chỉnh và hiệu quả gồm các cấu phần: chủ sở hữu, HĐQT, các Ủy ban giúp việc cho HĐQT, Ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp trực tiếp. Thứ hai, cấu trúc QTCT được coi như một yếu tố vô hình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của người gửi tiền đảm bảo tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo; tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hóa tổ chức và những chuẩn mực đạo đức. Thứ ba, QTCT có thể coi là một trong những công cụ được quản lý nhằm giúp người chủ công ty có thể kiểm soát được các hoạt động của giám đốc điều hành, ban kiểm soát, hội đồng quản trị và một số đối tượng khác trong công ty.
Tầm quan trọng của quản trị công ty Quản trị công ty được tạo ra với mục đích cuối cùng là ra các quyết định đúng đắn để vận hành công ty thông qua việc xây dựng một cơ chế phân định rõ quyền và trách nhiệm của mỗi thành phần liên quan đến công ty. Việc nhìn rõ trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi của mình sẽ giúp các bên liên quan đưa ra các quyết định đúng đắn vì lợi ích chung. Nếu công ty có hoạt động yếu kém, thì đó là lỗi của HĐQT không thực hiện đúng vai trò của mình và hạn chế tình huống không ai chịu trách nhiệm về những sai lầm trong hoạt động điều hành công ty. Trách nhiệm là những gì giúp mọi người trong công ty đưa ra quyết định ở vị trí của mình.
Điều này có thể dẫn đến sa thải những vị 6 trí không phù hợp hoặc không làm đúng vai trò của mình hoặc có thể đánh giá đúng những người làm việc tốt để điều động, bổ nhiệm những vị trí cấp cao. Một khía cạnh quan trọng của QTCT là giảm rủi ro cho công ty. Việc thực thi QTCT bên cạnh việc xác định vai trò của mỗi thành viên sẽ gắn trách nhiệm của họ với từng hoạt động. Mỗi hoạt động sai lầm hoặc cố tình vi phạm sẽ chịu tráchn hiệm trước các quy định chung công ty cũng như các quy định của pháp luật.
Bên cạnh đó, đối với hoạt động kinh doanh, QTCT sẽ giúp công ty được chấp nhận rộng rãi hơn. Điều này có được là do nguyên tắc minh bạch trong hoạt động, từ các vấn đề tài chính, đầu tư đến định hướng chung trong hoạt động hay tầm nhìn của công ty cơ bản sẽ được công khai. Một số mô hình quản trị công ty trên thế giới Căn cứ vào đặc điểm hệ thống tài chính và sự phân tách giữa sở hữu và quản trị, các nhà nghiên cứu chia QTCT thành 3 mô hình sau: (1) Mô hình QTCT của các nước Anh, Mỹ (Anglo-Saxon); (2) Mô hình QTCT của Đức; (3) Mô hình QTCT của Nhật Bản. Lý thuyết về quản trị công ty quốc tế cho thấy những nhận thức cơ bản về quản trị công ty, tuy nhiên thông tin chưa rõ ràng và chưa hoàn thiện.
Nhận thức của các nhà quản lý, lãnh đạo về mối quan hệ giữa hệ thống quản trị và giá trị kinh tế của các công ty đóng vai trò ngày càng tăng đối với các quốc gia trong việc tìm kiếm các cách thức xây dựng, phát triển thị trường và quyết định việc sẽ xây dựng hệ thống kinh tế và hệ thống quản trị công ty như thế nào. Cấu trúc quản trị trên thế giới đang phát triển khi chính phủ, các bên tư nhân và thị trường cố gắng tăng cường sức mạnh của các công ty và nền kinh tế. Các nghiên cứu về cấu trúc chủ sở hữu, lương và sự thay đổi kiểm soát được nghiên cứu nhiều. Điều này có thể phản ánh vai trò thống trị của cấu trúc sở hữu trong các nền kinh tế đó, sự thống trị này xuất phát từ nhiều yếu tố, trong đó có liên quan đến mức độ phát triển của thị trường, hệ thống luật… Mặc dù có nhiều minh chứng về cơ chế quản trị công ty riêng lẻ nhưng rất ít bằng chứng và các nhân tố chứng tỏ có mối liên hệ giữa chúng để có thể định hình được một cấu trúc quản trị tối ưu cho một công ty cụ thể.
Có nhiều tranh cãi về việc áp dụng hệ thống quản trị nào là tốt nhất. Có sự so sánh giữa Mỹ, Đức, Nhật và Anh về quản trị công ty và tranh cãi về hệ thống quản trị công ty giữa nền kinh tế dựa vào ngân hàng tại Đức, Nhật Bản và nền 7 kinh tế dựa vào thị trường như Mỹ và Anh. Quản trị công ty tại Mỹ phụ thuộc rất lớn vào thị trường trong khi quản trị công ty tại Nhật lại dựa nhiều vào mối quan hệ và tương tác xã hội. Quản trị công ty theo mô hình Anh, Mỹ Các công ty theo mô hình quản trị kiểu Anh, Mỹ có những đặc điểm khá khác biệt với các công ty có mô hình quản lý theo kiểu Đức, Nhật.
Điều này thể hiện rất rõ ở: phân bổ vốn; cấu trúc quản trị; vấn đề công bố thông tin; vấn đề sở hữu và kiểm soát; vấn đề pháp lý, quy định QTCT. Sở hữu tài sản ở Mỹ và Anh giống nhau do mức độ cổ phần hóa rất cao, trong khi tại Đức, sở hữu tài sản lại tập trung hơn sơ với Mỹ. Sự khác biệt đưa các nhà nghiên cứu đến sự khác biệt giữa nền kinh tế lấy thị trường là trung tâm (Mỹ và Anh) so với nền kinh tế lấy ngân hàng làm trung tâm (Đức và Nhật). Tại Anh, Mỹ, Hội đồng quản trị công ty đại diện cho lợi ích của cổ đông, có cơ chế hoạt động rõ ràng.
Về bản chất, sở hữu và kiểm soát hiếm khi tách biệt hoàn toàn với nhau tại bất kỳ công ty nào, vì vậy, đối với các cổ đông, hoạt động kiểm soát luôn tồn tại ở mức độ nào đó liên quan đến sở hữu tài sản của họ, do đó cấu trúc chủ sở hữu là nhân tố quan trọng của quản trị công ty. Bắt đầu từ sau 1980s nghiên cứu chỉ ra rằng nhiều công ty tại Mỹ ban giám đốc và các cổ đông sở hữu phần nhiều tài sản và mức sở hữu này rất đáng kể (không còn hiện tượng sở hữu phân tán). Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty niêm yết có tới 20% tài sản được nắm giữ bởi các cổ đông lớn. Tuy nhiên, mức sở hữu này so với các nền kinh tế khác còn ở mức thấp.