chương 1, tác giả đã trình bày một số nghiên cứu liên quan đến đánhgiá chỉ số CLTT BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến CLTT BCTC trên toàn thếgiới và trong nước. dựa trên những nghiên cứu trước đó, tác giả đã tham khảo cácphương pháp nghiên cứu đã được áp dụng trước đó và đánh giá kết quả đạt được cũng như giới hạn của họ. Mỗi nghiên cứu về CLTT BCTC có mục tiêu, phươngpháp và đối tượng khác nhau, dẫn đến kết quả đạt được cũng có hiệu quả khác nhau. Tác giả đã xác định khoảng trống trong các nghiên cứu trước đó và dựa vào đó, tác giả đê xuât các giả thuyêt và mô hình nghiên cứu cho các đê tài của mình.
24 CHƯƠNG 2: CHÁT LƯỢNG THÔNG TIN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 2. Cac khái niệm.1 Khái niệm về chất lượng thông tin BCTC > Chất lượng thông tin Chất lượng thông tin (Quality of Information) là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực kế toán và tài chính. Chất lượng thông tin phản ánh mức độ tương thích giữa thông tin được cung cấp và thực tế kinh doanh của công ty, cũng như mức độ đáp ứng của thông tin đó đối với nhu cầu sử dụng của các bên liên quan. Chất lượng thông tin càng cao, thì sự tin tưởng của các bên liên quan đối với công ty càng được củng có, từ đó đóng góp vào việc xây dựng mối quan hệ tốt giữa công ty và các bên liên quan.
Đứng trên góc độ người sử dụng thông tin, Năm 1999, Wang va cộng sự đã đưa ra quan điểm về chất lượng thông tin trong bài báo "Quality of Information: Qualitative and Quantitative Assessment". Theo họ, chất lượng thông tin là một khái niệm đa chiều, bao gồm các khía cạnh như độ chính xác, độ tin cậy, tính toàn vẹn, tính khả dụng và tính thời gian cập nhật. Theo Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) chat lượng thông tin là sự tương đốicủa thông tin trong quá trình truyền tải và sử dụng. Nó được đo lường bằng một số tiêu chí như tính đúng đắn, đầy đủ, tin cậy và dễ hiểu.
Bên cạnh đó, bà cũng đề xuất một mô hình đánh giá chất lượng thông tin trên môi trường mạng dựa trên các yếu tố về người dùng, nguồn thông tin và quá trình truyền tải thông tin. > Chất lượng thông tin báo cáo tài chính Chất lượng thông tin báo cáo tài chính đề cập đến mức độ đáng tin cậy, khách quan và hữu ích của thông tin được cung cấp trong báo cáo tài chính của một doanh nghiệp. Chất lượng thông tin báo cáo tài chính được đánh giá dựa trên các tiêu chí như tính đầy đủ, chính xác, khách quan, thống nhất và minh bạch. Một báo cáo tài chính chất lượng cao sẽ giúp người sử dụng thông tin hiểu rõ hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp, tăng độ tin cậy và đánh giá đúng mức rủi ro khi đưa ra quyết định liên quan đến doanh nghiệp đó.
Chất lượng thông tin trong kế toán là một chủ đề quan trọng và đã được nhiều tổ chức đề cập trong các báo cáo và tài liệu khác nhau. Một số tổ chức đáng chú ý bao gồm: 1. Tổ chức Kế toán và Kiểm toán Hoa Kỳ (Financial Accounting Standards Board - FASB): Tổ chức này có trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn kế toán và báo cáo tài chính cho các doanh nghiệp tại Hoa Ky. FASB thường đề cập đến chất lượng thông tin trong các tiêu chuẩn kế toán và hướng dẫn của mình.
Tổ chức Kế toán và Kiểm toán Quốc tế (International Accounting Standards Board - IASB): 25 Tổ chức này có trách nhiệm thiết lập các tiêu chuẩn kế toán quốc tế (IFRS) cho các doanh nghiệp trên toàn cầu. IASB cũng đề cập đến chất lượng thông tin trong các tiêu chuẩn và hướng dẫn của mình. Tổ chức Kế toán và Kiểm toán Canada (Chartered Professional Accountants of Canada - CPA Canada): Tổ chức này đại diện cho cộng đồng kế toán và kiểm toán tại Canada và cung cấp các tài liệu và hướng dẫn về kế toán và kiểm toán cho các thành viên của nó. CPA Canada đề cập đến chất lượng thông tin trong các tài liệu của mình.
Tổ chức Kế toán và Kiểm toán Anh (Institute of Chartered Accountants in England and Wales - ICAEW): Tổ chức nay đại diện cho cộng đồng kế toán va kiểm toán tại Anh và cung cấp các tài liệu và hướng dẫn về kế toán và kiểm toán cho các thành viên của nó. ICAEW cũng đề cập đến chất lượng thông tin trong các tài liệu của mình. Theo quan điểm của FASB và IASB: Cả IASB va FASB đều đưa ra khái niệm rằng "Báo cáo tài chính chất lượng cao được đạt được thông qua việc tuân thủ các mục tiêu và đặc tính chất lượng thông tin báo cáo tài chính". Mục đích chung của báo cáo tài chính là cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho các nhà đầu tư, người cho vay, các chủ nợ hiện tại và tiềm năng dé đưa ra quyết định về việc cung cấp nguồn lực cho một thực thể (IASB, 2010).
Trong khuôn khổ của mình, IASB nêu rõ hai đặc tính nền tảng của chất lượng thông tin báo cáo tài chính là "Thích hợp" và "Trung thực". Ngoài ra, còn có bốn thuộc tính làm tăng chất lượng thông tin bao gồm: "So sánh được, Kiểm chứng được, Thời gian phù hợp, So sánh được" Tính thích hop (Relevance): Thông tin được coi là có tính thích hợp khi nó liên quan đến vấn đề cần giải quyết, có thê ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định, được cung cấp đúng thời điểm và bằng cách phù hợp theo các nguyên tắc và quy định kế toán áp dụng. Tính thích hợp là một trong những nguyên tắc cơ bản trong kế toán và rất quan trọng trong việc đảm bảo rằng thông tin được cung cấp là có giá trị và hữu ích cho quá trình ra quyết định của người dùng. Trinh bày trung thực (Reliability): Là một khái niệm quan trọng đánh giá tính dang tin cậy của thông tin tài chính.
Thông tin được coi là trung thực khi nó được cung cấp dựa trên các nguyên tắc và quy định kế toán, được kiểm tra và xác nhận độ chính xác bằng cách sử dụng các phương pháp kiểm toán và bảo vệ tài sản tài chính. Tính trung thực đóng vai trò quan trọng trong việc dam bảo sự minh bach và độ tin cậy của thông tin tài chính,hỗ trợ quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin và tăng cường niềm tin của các bên liên quan đối với doanh nghiệp Có thé so sánh được (Comparability): Là một nguyên tắc kế toán quan trọng, đảm bảo rằng 26 thông tin tài chính được cung cấp có thê được so sánh và đối chiếu với thông tin tài chính của các doanh nghiệp khác hoặc của chính doanh nghiệp đó trong quá khứ. Để đạt được tính so sánh được, thôngtin tài chính cần phải được cung cấp bằng cách sử dụng các phương pháp đo lường và báo cáo tiêu chuẩn, được giải thích và mô tả một cách rõ ràng và chỉ tiết. Có thé kiểm chứng (Verifiability): Thông tin tài chính được coi là có thé kiêm chứng khi nó được cung cấp bằng các bằng chứng day đủ và có thé được xác minh bằng các phương pháp kiểm toán, bao gồm kiểm tra và đánhgiá các ghi chép, tài sản và các thông tin khác liên quan đến tài chính của doanh nghiệp.
Tính có thê kiểm chứng trong kế toán cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính chính xác và tin cậy của thông tin tài chính, hỗ trợ quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin và tăng cường niềm tin của các bên liên quan đối với doanh nghiệp. Tinh kịp thời (timeliness) trong kế toán đề cập đến việc cung cấp thông tin tài chính trong thời gian phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin. Thông tin tài chính nên được cập nhật định kỳ và được cung cấp trong thời gian ngắn nhất để đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên liên quan. Tính kịp thời làm cho thông tin tài chính trở nên cập nhật và đáng tin cậy, hỗ trợ quá trình ra quyết định của người sử dụng thông tin và giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp.
Có thể hiểu được (understandability) là một nguyên tắc quan trọng trong kế toán, đảm bao rằng thông tin tài chính được cung cap là dé hiểu và truyền tải thông tin một cách rõ ràng và đơn giản. Thông tin tài chính nên được giải thích và mô tả một cách dé hiểu và tránh sử dụng các thuật ngữ kỹ thuật khó hiéu. Theo quan điểm của VAS Theo Vietnamese Accounting Standards ( VAS ), chất lượng thông tin kế toán được đề cập trong "các yêu cầu cơ bản đối với kế toán" bao gồm: Tinh day đủ (Completeness): Thông tin tài chính phải bao gồm tất cả các giao dịch và sự kiện liên quan đến tải sản, nợ, vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp. Tính chính xác (Accuracy): Thông tin tài chính phải chính xác va đáng tin cậy.
Các giao dịch và sự kiện phải được phân loại và ghi chép chính xác và các số liệu phải được tính toán đúng cách. Tính thời vụ (Timeliness): Thông tin tài chính phải được cập nhật và cung cấp đầy đủ trong thời gian ngắn nhất đề hỗ trợ quá trình ra quyết định. Tính thống nhất (Consistency): Thông tin tài chính phải được ghi chép và báo cáo theo các nguyên tắc và tiêu chuân kế toán thống nhất dé đảm bảo tính so sánh và hiểu được. Có thể so sánh được (Comparability): Thông tin tài chính phải cho phépso sánh với thông tin 27 tài chính của các doanh nghiệp khác đề đánh giá hiệu suất tài chính - Tính hiểu được (Understandability): Thông tin tài chính phải được truyền tải một cách rõ rang và dé hiểu dé các bên liên quan có thé hiéuva sử dụng thông tin một cách hiệu quả.
- Có thé kiểm chứng (Verifiability): Thông tin tài chính phải có day đủ các bang chứng để có thê kiểm chứng tính chính xác của nó.2 Khái niệm về chất lượng lợi nhuận (Earnig quality) Chất lượng lợi nhuận (Earning quality) là một khái niệm trong lĩnh vực kế toán được dùng dé đánh giá mức độ đáng tin cậy của thông tin lợi nhuận được công bồ trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Chất lượng lợi nhuận cao đồng nghĩa với việc thông tin lợi nhuận được cung cấp đầy đủ, chính xác, đúng thờiđiểm và không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác ngoài hoạt động kinh doanh thực tế của doanh nghiệp. Các yếu tố khác bao gồm sự tùy ý trong lựa chọn các chính sách kế toán, các phương thức tính giá và ước lượng của doanh nghiệp, những tác động từ các khoản chỉ phí không thường xuyên, hoặc các khoản phân phối lợi nhuận không hợp lý.