CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tài sản đảm bảo 1. Khái niệm tài sản đảm bảo TSĐB đóng vai trò thiết yếu trong các hoạt động của ngành Tài chính – Ngân hàng. Khái niệm về TSĐB có nguồn gốc từ chính ngành công nghiệp Tài chính – Ngân hàng.
Trong lịch sử, việc sử dụng TSĐB đã xuất hiện từ thời kỳ cổ đại, khi các nhà kinh doanh đã sử dụng tài sản như đất đai hoặc tài sản vật chất để bảo đảm cho các giao dịch thương mại và cho vay. Ngày nay, các quy định và tiêu chuẩn về TSĐB thường được quy định bởi các tổ chức tài chính quốc tế, các cơ quan quản lý và các tổ chức tiêu chuẩn hóa như Ngân hàng Thế giới, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, Tổ chức Tiêu chuẩn Hóa Quốc tế và nhiều tổ chức khác. Tuy nhiên, tùy vào các quốc gia khác nhau, các tổ chức và thị trường khác nhau sẽ có những quan điểm cũng rất khác nhau về TSĐB. Theo Ngân hàng Thế giới (WB), TSĐB là tài sản mà một bên (thường là người vay) đặt dưới sự kiểm soát của một bên khác (thường là người cho vay) như một dạng bảo đảm để bảo vệ sự hoàn trả của khoản vay.
TSĐB thường được sử dụng trong các giao dịch cho vay và tín dụng để giảm thiểu rủi ro cho bên cho vay và tăng cường lòng tin của bên vay. Còn theo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) thì TSĐB lại được coi là một tài sản hoặc một tài sản tài chính mà một người có thể chấp nhận hoặc thụ lãi từ nó như là một dạng bảo đảm cho một khoản vay. Trong trường hợp không hoàn trả, người cho vay có quyền tiếp quản hoặc bán TSĐB để lấy lại một phần hoặc toàn bộ khoản vay. Tổ chức Tiêu chuẩn Hóa Quốc tế (ISO) cũng đưa ra định nghĩa về TSĐB là một tài sản hoặc quyền sở hữu mà người vay sử dụng để bảo đảm hoặc bảo hiểm cho một khoản vay.
TSĐB có thể bao gồm tài sản vô hình như quyền sử dụng đất đai hoặc tài sản hữu hình như nhà ở hoặc xe hơi. Hiện tại, pháp luật Việt Nam chưa có quy định cụ thể về thuật ngữ TSĐB nhưng tại Khoản 7, Điều 3, Nghị định 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm đã chỉ 6 ra rằng: “TSĐB là tài sản mà bên bảo đảm dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự với bên nhận bảo đảm”. Có thể nói, trong những quan điểm đã được trình bày ở trên, quan điểm về TSĐB của Việt Nam đã bao hàm được hết ý rộng của TSĐB nhưng lại thiếu tính cụ thể. Còn với quan điểm của WB và FED thì đã có sự cụ thể hóa hơn so với quan điểm của Việt Nam là đã đặt trong bối cảnh cụ thể của hoạt động NHTM và đã khái quát được vai trò của TSĐB.
Riêng với ISO, tổ chức này đã đưa ra thêm các dạng TSĐB so với các quan điểm khác đã trình bày. Tuy mỗi quan điểm về TSĐB trên đều rất phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong các văn bản khoa học cũng như trong các hoạt động đời sống thường ngày nhưng sau khi tổng hợp từ các quan điểm trên, tác giả xin đưa ra một cách tiếp cận khác đầy đủ hơn về TSĐB đó là: TSĐB là là các tài sản mà người vay cung cấp để bảo đảm cho một khoản vay từ một tổ chức tài chính hoặc ngân hàng. Trong các giao dịch cho vay, TSĐB được sử dụng như là một biện pháp bảo đảm an toàn cho người cho vay trong trường hợp người vay không thể hoặc không muốn trả lại khoản vay. Phân loại tài sản đảm bảo Điều 8, Nghị định 21/2021/NĐ-CP có quy định về tài sản dùng để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ bao gồm: Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai Tài sản bán trong hợp đồng mua bán tài sản có bảo lưu quyền sở hữu Tài sản thuộc đối tượng của nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ bị vi phạm đối với biện pháp cầm giữ Tài sản thuộc sở hữu toàn dân Trong hoạt động ngân hàng, TSĐB thường được phân chia làm 4 loại: TSĐB được dùng để thế chấp TSĐB được dùng để cầm cố thường bao gồm các loại tài sản như Tiền trên tài khoản/ký gửi/ký quỹ Các loại giấy tờ có giá có tính thanh khoản cao 7 Hàng hóa, nhưng phải là loại hàng hóa dễ bảo quản, chi phí bảo quản không quá lớn.
Kho cầm giữ do bên cho vay lựa chọn TSĐB là bảo lãnh của bên thứ ba TSĐB là tài sản hình thành trong tương lai 1. Điều kiện tài sản đảm bảo Điều kiện TSĐB được quy định rõ tại Điều 295 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, cụ thể như sau: Khoản 1 Điều 295 tại bộ luật này quy định: “TSĐB phải thuộc sở hữu của bên đảm bảo trừ trường hợp tài sản được đảm bảo bằng biện pháp cầm giữ hoặc bảo lưu quyền sở hữu”. Như vậy, trừ 2 trường hợp ngoại lệ là cầm giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu thì bất cứ TSĐB nào cũng đều phải thuộc quyền sở hữu của bên đảm bảo. Điều kiện thứ hai là TSĐB phải là tài sản xác định được.
Điều này được trình bày tại Khoản 2 Điều 295 BLDS 2015, cụ thể như sau “TSĐB có thể được mô tả chung , nhưng phải xác định được”. Và việc mô tả TSĐB được quy định tại Điều 9 Nghị định 21/2021/NĐ-CP, theo đó việc mô tả TSĐB do các bên thỏa thuận và đối với các loại TSĐB khác nhau cũng sẽ có những điểm khác biệt về mô tả cần lưu ý. Ngoài ra, TSĐB phải là tài sản không bị cấm giao dịch đúng theo quy định tài Khoản 1 Điều 320 BLDS 2015. Bên cạnh đó, một chú ý quan trọng là TSĐB có thể có giá trị lớn hơn, nhỏ hơn hoặc bằng giá trị của nghĩa vụ được đảm bảo và có thể là tài sản hiện có hoặc là tài sản hình thành trong tương lai.
Hoạt động cho vay tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và vai trò của các ngân hàng thương mại Khoản 23 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2024 quy định: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Có thể nói rằng, NHTM là các tổ chức tài chính quan trọng trong hệ thống ngân hàng của một quốc gia, chịu trách nhiệm cung cấp nhiều dịch vụ tài chính và tạo ra các kênh giao dịch cho các hoạt động kinh tế. Với vai trò trung gian giữa người gửi tiết kiệm và người vay, NHTM 8 thu hút vốn từ cộng đồng và cung cấp vốn cho các cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác.
Về khía cạnh tài chính, NHTM chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nhận tiền gửi, cung cấp khoản vay và cung cấp các dịch vụ thanh toán. Bằng cách huy động vốn từ người gửi tiết kiệm thông qua các sản phẩm tiền gửi và trái phiếu, NHTM có nguồn tài trợ để trợ cấp các khoản vay cho các cá nhân và doanh nghiệp, từ việc cung cấp vốn hoạt động đến việc tài trợ cho các dự án đầu tư lớn. Ngoài ra, NHTM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng bằng việc đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng và từ đó tạo nên các hợp đồng vay vốn. Đồng thời, các NHTM thường cung cấp các dịch vụ thanh toán như thẻ tín dụng, chuyển khoản và dịch vụ ngân hàng trực tuyến, giúp tối ưu hóa việc giao dịch và quản lý tài chính cho khách hàng.
Bên cạnh vai trò tài chính, NHTM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ cho các hoạt động thương mại và doanh nghiệp. Bằng cách cung cấp dịch vụ tài chính như chứng khoán, quản lý tài sản và tư vấn tài chính NHTM giúp doanh nghiệp tối ưu hóa cơ cấu vốn, quản lý rủi ro và tìm kiếm cơ hội đầu tư. Hơn nữa, bằng cách cung cấp tài trợ vốn và tư vấn tài chính, NHTM giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế và cải thiện hạ tầng cơ sở, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động sản xuất kinh doanh và cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng. Ngoài ra, NHTM cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển và chuyển đổi số của nền kinh tế khi cung cấp các dịch vụ ngân hàng trực tuyến và các công nghệ tiên tiến.
Về mặt tổng quan, hệ thống NHTM có vai trò rất quan trọng. Đóng vai trò như bộ xương sống của hệ thống tài chính, NHTM không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn chính là đồng minh quan trọng trong thúc đẩy sự phát triển kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống và đóng góp vào sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh của các NHTM. Các NHTM thu hút vốn từ nguồn tiết kiệm và các nguồn vốn khác, sau đó cung cấp các khoản vay cho cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức khác nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cá nhân.
Mục tiêu chính của việc cho vay 9 là tạo ra thu nhập cho ngân hàng, đồng thời thúc đẩy sự phát triển kinh tế bằng cách cung cấp tài chính cho các dự án đầu tư và tiêu dùng. Quá trình cho vay của mỗi NHTM khác nhau thì sẽ khác nhau. Tuy nhiên đều sẽ bắt đầu với việc đánh giá năng lực tài chính của khách hàng. Các NHTM thực hiện việc phân tích tài chính, đánh giá rủi ro và xác định khả năng trả nợ của khách hàng dựa trên các yếu tố như lịch sử tín dụng, thu nhập, và khả năng tài chính.
Dựa trên kết quả của đánh giá này, ngân hàng quyết định về việc cấp tín dụng, lãi suất và điều kiện vay. Trong quá trình vay, TSĐB đóng vai trò rất quan trọng. Đây là các tài sản mà người vay đưa ra để bảo đảm cho khoản vay. Tài sản này có thể là bất động sản, phương tiện di chuyển, hoặc các tài sản tài chính khác.
Mặt khác, việc quản lý rủi ro cũng là một phần không thể thiếu trong hoạt động cho vay. Bên cạnh đó, ngân hàng cần phải đánh giá và quản lý các rủi ro liên quan đến việc cho vay, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hệ thống.