Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay" do nghiên cứu sinh Đàm Tuấn Anh thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, chuyên ngành Tôn giáo học (mã số: 9.22 90 09), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hồng Dương và PGS.TS. Nguyễn Thanh Xuân (bảo vệ năm 2018).

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị thế đặc biệt của Thủ đô Hà Nội - trung tâm đầu não chính trị, hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục và giao dịch quốc tế. Hà Nội là nơi đặt trụ sở trung ương của hầu hết các tổ chức tôn giáo lớn ở Việt Nam như Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Thánh thất Cao Đài Thủ đô, Thánh đường Hồi giáo Al-Noor. Sau khi mở rộng địa giới hành chính từ ngày 01/8/2008 (hợp nhất tỉnh Hà Tây, huyện Mê Linh của tỉnh Vĩnh Phúc và 4 xã thuộc huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình), diện mạo tôn giáo tại Hà Nội có sự gia tăng nhanh chóng về số lượng tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự và các loại hình sinh hoạt tôn giáo. Bên cạnh sự tham gia tích cực của các tôn giáo vào đời sống xã hội, tình hình tôn giáo tại địa bàn cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp như tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người dẫn đến điểm nóng (tiêu biểu như các vụ việc tại số 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng Chiêm trong các năm 2007-2008, vụ nhóm trẻ tình thương tại chùa Bồ Đề), sự phát triển của các hệ phái Tin lành chưa có tư cách pháp nhân, các hiện tượng tôn giáo mới và hoạt động tôn giáo của người nước ngoài. Công tác tôn giáo (CTTG) trên địa bàn còn bộc lộ bất cập, thiếu đồng bộ từ thành phố đến cơ sở; nhận thức và năng lực quản lý của một bộ phận cán bộ còn hạn chế.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là: dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về từng tôn giáo hoặc từng mặt của công tác quản lý, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu toàn diện, tổng thể về diện mạo tất cả các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội mở rộng gắn liền với việc đánh giá thực trạng CTTG của cả hệ thống chính trị trong giai đoạn đổi mới đến trước khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 có hiệu lực thi hành (01/01/2018).

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Trên cơ sở lý luận phân tích, làm rõ thực trạng tình hình tôn giáo và CTTG ở Hà Nội, luận án dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo và CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới và đề xuất một số khuyến nghị giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Hà Nội hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm rõ tình hình, đặc điểm của các tôn giáo và thực trạng CTTG ở Hà Nội hiện nay.
  2. Nêu lên một số vấn đề đặt ra đối với hoạt động tôn giáo và CTTG ở Hà Nội.
  3. Dự báo tình hình tôn giáo, một số xu hướng tôn giáo và CTTG trong thời gian tới trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG trên địa bàn Hà Nội.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Hà Nội có những tôn giáo nào đang tồn tại và các tôn giáo đó có tác động gì đến CTTG ở Hà Nội?
  2. CTTG ở Hà Nội đã đạt được những thành tựu và những vấn đề còn hạn chế trong thời gian qua là gì?
  3. Những vấn đề đặt ra đối với CTTG ở Hà Nội cần phải khắc phục, giải quyết trong thời gian tới là gì?
  4. Cần phải có những giải pháp gì để khắc phục những vấn đề hiện nay nhằm nâng cao hiệu quả CTTG của Hà Nội trong thời gian tới?

Giả thuyết nghiên cứu:

  • Thứ nhất, luận án khái quát tình hình du nhập, phát triển cộng đồng tôn giáo, hoạt động của các tôn giáo dưới góc nhìn tổng quan về diện mạo của các tôn giáo ở Hà Nội, trên cơ sở đó, đưa ra những đánh giá cả về mặt tích cực và tiêu cực của các tôn giáo có những tác động ảnh hưởng đến mọi mặt xã hội cũng như CTTG của Hà Nội hiện nay.
  • Thứ hai, luận án đánh giá một cách đầy đủ về các nội dung của CTTG ở Hà Nội với sự tham gia của cả hệ thống chính trị Thành phố Hà Nội. Qua đó, đưa ra những nhận xét, nhận định về các nội dung cơ bản của CTTG, trong đó có đề cập đến bộ máy và đội ngũ làm CTTG từ cấp thành phố đến cơ sở. Ngoài ra, luận án sẽ có những nghiên cứu về sự đổi mới chính sách đối với tôn giáo cũng như CTTG từ Trung ương đến địa phương (Hà Nội).
  • Thứ ba, luận án tổng kết những thành tựu đã đạt được và những điểm còn yếu kém, bất cập trong CTTG của Thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTTG ở Hà Nội trong thời gian tới, góp phần bổ sung hoàn chỉnh về chính sách, pháp luật liên quan đến tôn giáo và CTTG ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Diện mạo các tôn giáo ở địa bàn Hà Nội và thực trạng CTTG của Hà Nội hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính (30 quận, huyện, thị xã; 577 xã, phường, thị trấn).
  • Phạm vi thời gian: Từ khi có chính sách đổi mới về CTTG với sự ra đời của Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị về Tăng cường CTTG trong tình hình mới cho đến khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước liên quan trực tiếp đến đề tài theo hai nhóm vấn đề chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu về tôn giáo nói chung và tôn giáo ở Hà Nội:

  • Luận văn thạc sĩ của Lê Tâm Đắc (2001) làm rõ sinh hoạt Phật giáo ở Hà Nội trước và sau năm 1986, xác định các biểu hiện mới trong hoạt động Phật giáo và đề xuất giải pháp.
  • Tác phẩm của Đặng Nghiêm Vạn (2003) phân tích lý luận tôn giáo và làm rõ đặc điểm tình hình tôn giáo ở Việt Nam qua hai cuộc điều tra xã hội học năm 1995 và 1998 đối với đối tượng lương và giáo tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Thừa Thiên - Huế.
  • Đề tài cấp Thành phố do Nguyễn Quốc Triệu chủ nhiệm, Nguyễn Hồng Dương làm cố vấn (2003) làm rõ thực trạng đạo Tin lành tại Hà Nội về giáo lý, nghi lễ, quá trình phát triển và đánh giá công tác quản lý nhà nước (QLNN) từ năm 1980 đến 2003.
  • Tác phẩm của Nguyễn Quang Hưng (2007) phân tích Công giáo thời Nguyễn (1802-1883) và phản ứng của nhà nước phong kiến đối với việc truyền bá Kitô giáo.
  • Tác phẩm của Nguyễn Hồng Dương (2008) hệ thống toàn diện quá trình hình thành, phát triển các cộng đoàn và đời sống tôn giáo của Công giáo và Tin lành ở Hà Nội trước thời điểm mở rộng năm 2008.
  • Tác phẩm của Đỗ Quang Hưng (2010) nghiên cứu cấu trúc "không gian thiêng" kết hợp "không gian quyền lực" của Thăng Long - Hà Nội và đặc điểm của 7 tôn giáo (Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Islam giáo).
  • Các luận án tiến sĩ nghiên cứu chuyên sâu về Phật giáo gồm: Ngô Thị Lan Anh (2011) về phạm trù "Tâm", Nguyễn Thị Điệp (2015) về tư tưởng "Nghiệp", Nguyễn Thị Thành (2016) về mối quan hệ giữa Phật giáo và phụ nữ.
  • Tác phẩm của Ngô Hữu Thảo và Đào Văn Bình (2014) khảo sát 19 đạo lạ tại Hà Nội qua cuộc điều tra năm 2012, chỉ ra 12/19 đạo lạ ra đời tại Hà Nội.
  • Bộ sách "Bách khoa thư Hà Nội - phần Hà Nội mở rộng" (Tập 10, 2017) khái quát tín ngưỡng, tôn giáo tại vùng đất tỉnh Hà Tây cũ.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về công tác tôn giáo và quản lý nhà nước về tôn giáo:

  • Luận văn của Văn Đức Thu (2001) nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết 59 vụ việc phức tạp của Công giáo tại Hà Nội từ 1993 đến 2000.
  • Các công trình của Đỗ Quang Hưng (2005, 2014) tổng kết đường lối chính sách tôn giáo của Đảng từ 1930 đến 2005, nghiên cứu chính sách tôn giáo trong nhà nước pháp quyền, đề cập các vấn đề pháp nhân, đất đai và đối ngoại tôn giáo.
  • Giáo trình và đề tài về QLNN của Ban Tôn giáo Chính phủ (2005), Ngô Văn Minh (2009 tại Tây Nguyên), Bùi Hữu Dược (2014 giai đoạn 1975-2013), Nguyễn Thị Vân Hà (2014 về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật).
  • Các tác phẩm lý luận và thực tiễn của Ngô Hữu Thảo (2012), Nguyễn Hồng Dương (2012, 2014, 2015), Hoàng Minh Đô và Đỗ Lan Hiền (2015), Nguyễn Thanh Xuân (2015) phân tích quá trình hình thành, hoàn thiện đường lối của Đảng qua các văn bản quan trọng (Nghị quyết 24-NQ/TW năm 1990, Chỉ thị 37-CT/TW năm 1998, Nghị quyết 25-NQ/TW năm 2003, Cương lĩnh 1991, 2011).
  • Các nghiên cứu địa bàn Hà Nội của Nguyễn Cao Dũng (2012 về vận động chức việc Công giáo), Dương Ngọc Kiên (2014 giai đoạn 2004-2014), Phạm Thị Phương Mai (2014) và nghiên cứu so sánh tại Ninh Bình của Lê Thị Minh Thảo (2015).

Vị trí của luận án: Kế thừa nền tảng tư liệu và lý luận từ các công trình trên, luận án giải quyết khoảng trống nghiên cứu về một bức tranh diện mạo tôn giáo tổng thể, đa diện (gồm tôn giáo truyền thống, tôn giáo mới, tôn giáo của người nước ngoài) trên toàn địa bàn Hà Nội sau khi sáp nhập địa giới hành chính năm 2008, đồng thời phân tích CTTG dưới góc độ toàn bộ hệ thống chính trị đến mốc thời gian trước khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 có hiệu lực.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng kết hợp ba lý thuyết xã hội học và chính trị học tôn giáo:

  • Lý thuyết thực thể tôn giáo: Tiếp cận tôn giáo như một thực thể xã hội đặc biệt cấu thành từ ba yếu tố: niềm tin vào cái thiêng, hành vi/thực hành gắn với niềm tin và cộng đồng người có cùng niềm tin. Khung lý thuyết này được vận dụng trong Chương 2 để khảo sát diện mạo tôn giáo qua ba phương diện: quá trình hình thành - phát triển, cộng đồng tôn giáo và các hoạt động tôn giáo (hành đạo, truyền đạo, quản đạo).
  • Lý thuyết cấu trúc - chức năng: Dựa trên nền tảng của Émile Durkheim, Max Weber và Bronisław Malinowski. Lý thuyết này được áp dụng ở Chương 2 để phân tích chức năng liên kết xã hội, văn hóa, từ thiện của tôn giáo, và ở Chương 3 để phân tích cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và cơ chế phối hợp của các cơ quan trong hệ thống chính trị Thành phố Hà Nội khi thực hiện CTTG.
  • Lý thuyết về xung đột: Dựa trên nền tảng lý thuyết xung đột chính trị của Karl Marx và sự phát triển của Ralf Dahrendorf, Lewis Coser, Anatol Rapoport. Luận án vận dụng lý thuyết xung đột ở Chương 3 và Chương 4 để nhận diện, giải thích những mâu thuẫn, độ "vênh" giữa giáo lý, giáo luật, quan điểm của một số tổ chức tôn giáo với chính sách, pháp luật của Nhà nước (đặc biệt trong vấn đề đất đai, trật tự xã hội), từ đó tìm kiếm cơ chế dung hòa và giải quyết tranh chấp.

Các khái niệm công cụ được xác lập trong luận án gồm: Hoạt động tôn giáo, Tổ chức tôn giáo, Pháp nhân tôn giáo, Mê tín dị đoan, Hệ thống chính trị, Công tác tôn giáo, Quản lý nhà nước về tôn giáo, Hiện tượng tôn giáo mới.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án thuộc hướng tiếp cận định tính kết hợp phương pháp liên ngành khoa học xã hội.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm: Phương pháp phân tích hệ thống, mô hình hóa, khảo sát thực địa, nghiên cứu tài liệu lịch sử và tư liệu lưu trữ.
  • Kỹ thuật thu thập và xử lý thông tin: Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu đối với các nhà quản lý, cán bộ chuyên trách CTTG và chức sắc tôn giáo; sử dụng phương pháp thống kê mô tả để xử lý các bảng biểu về cơ cấu nhân sự, tín đồ, chức sắc, cơ sở thờ tự.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Báo cáo định kỳ và chuyên đề của Ban Tôn giáo Thành phố Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội, Ban Dân tộc Thành phố Hà Nội.
  • Văn kiện, nghị quyết của Thành ủy Hà Nội, HĐND và UBND các cấp.
  • Tài liệu báo cáo nội bộ của các tổ chức tôn giáo: Giáo hội Phật giáo Việt Nam TP. Hà Nội, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Ủy ban Đoàn kết Công giáo TP. Hà Nội.
  • Số liệu thống kê dân số từ các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình và địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề, xây dựng khung lý thuyết nghiên cứu gồm 3 lý thuyết nền tảng (thực thể tôn giáo, cấu trúc - chức năng, xung đột) và giải thích các khái niệm then chốt. Bên cạnh đó, chương tập trung phân tích đặc điểm địa bàn nghiên cứu Thành phố Hà Nội sau khi hợp nhất theo Nghị quyết số 15/2008/NQ-QH12 ngày 29/5/2008 của Quốc hội.

Về điều kiện tự nhiên và hành chính: Diện tích tự nhiên của Hà Nội đạt 334.470,02 ha (gấp hơn 3 lần trước năm 2008), gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã và 577 xã, phường, thị trấn; địa hình chuyển tiếp đồng bằng chiếm 3/4 diện tích, có vùng đồi núi phía Bắc và Tây Nam.

Về dân cư và dân tộc: Dân số tính đến ngày 01/4/2016 đạt 7.841.000 người (nam: 3.516.000, nữ: 3.325.000; khu vực thành thị: 3.424.000, khu vực nông thôn: 3.417.000; mật độ dân số trung bình 12 quận nội thành là 11.220 người/km²). Đến thời điểm 2018, trên địa bàn có đồng bào thuộc 50 dân tộc thiểu số với trên 92.000 người sinh sống tại 30 quận, huyện, thị xã; trong đó cư trú tập trung tại 153 thôn thuộc 14 xã của 5 huyện: Ba Vì, Thạch Thất, Quốc Oai, Chương Mỹ, Mỹ Đức.

Về kinh tế - xã hội: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2010-2016 đạt 9-12%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt xấp xỉ 3.200 USD. Hà Nội có mạng lưới giáo dục lớn nhất cả nước với khoảng 70 trường đại học, học viện, cao đẳng. Bối cảnh đô thị hóa nhanh và áp lực cạnh tranh kinh tế làm gia tăng nhu cầu tìm kiếm chỗ dựa tâm linh của các tầng lớp cư dân.

Chương 2: Thực trạng và đặc điểm tôn giáo ở Hà Nội

Chương 2 trình bày chi tiết diện mạo, lịch sử du nhập, cơ cấu tổ chức, hoạt động tôn giáo và hoạt động xã hội của các tôn giáo trên địa bàn Hà Nội:

Phật giáo:

  • Tổ chức và nhân sự: Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) TP. Hà Nội gồm 30 Ban Trị sự quận, huyện, thị xã; Ban Trị sự Thành phố gồm 1 Trưởng ban, 5 Phó Trưởng ban và 13 Tiểu ban. Có 2 văn phòng (chùa Bà Đá - Hoàn Kiếm và chùa Mỗ Lao - Hà Đông), 2 cơ sở đào tạo là Trường Sơ cấp Phật học (chùa Mỗ Lao) và Trường Trung cấp Phật học (chùa Đại Từ Ân, huyện Đan Phượng).
  • Thống kê Tăng Ni, tín đồ và tự viện: Có 2.060 vị Tăng, Ni (gồm 377 Tỷ khiêu, 1.331 Tỷ khiêu Ni, 76 Sa di, 92 Sa di Ni, 59 Thức xoa ma na, 125 Hình đồng và Hình đồng ni) cùng khoảng 600.000 tín đồ. Toàn thành phố có 2.059 ngôi chùa; GHPGVN TP. Hà Nội trực tiếp quản lý 1.696 chùa (trong đó có 209 chùa là di tích cấp quốc gia, 299 chùa là di tích cấp thành phố; giai đoạn 1990-2003 xây dựng mới 94 chùa, giai đoạn 2004 đến 2017 xây mới 48 chùa).
  • Đạo tràng Phật giáo: Tính đến ngày 20/8/2017, toàn thành phố có 113 đạo tràng với 12.955 tín đồ tham gia (50/113 đạo tràng đã đăng ký hoạt động). Địa bàn quận Long Biên có đông tín đồ tham gia đạo tràng nhất (1.420 tín đồ), quận Hà Đông có ít nhất (1 đạo tràng, 11 tín đồ). Có 30 giảng đường tổ chức tu tập định kỳ.
  • Hoạt động xã hội và tham gia cơ quan dân cử: Thực hiện các mô hình cai nghiện (chùa Pháp Vân), câu lạc bộ hỗ trợ người nhiễm HIV (Hương Sen, Bình Minh, Hướng Dương). Về cơ quan dân cử và đoàn thể: 1 vị tham gia Quốc hội khóa XIII (Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm), 1 người tham gia HĐND Thành phố, 6 người tham gia MTTQ Thành phố; 19 người tham gia HĐND cấp huyện, 48 người tham gia MTTQ cấp huyện; 450 người tham gia HĐND cấp xã và 291 người tham gia MTTQ cấp xã.

Công giáo:

  • Lịch sử và mạng lưới: Du nhập từ năm 1626 (giáo sĩ Baldinoti) và năm 1627 (Alexandre de Rhodes). Hiện nay có 90 giáo xứ thuộc 3 giáo phận: Giáo phận Hà Nội (68 giáo xứ), Giáo phận Hưng Hóa (15 giáo xứ), Giáo phận Bắc Ninh (7 giáo xứ); hơn 400 nhà thờ, nhà nguyện; khoảng 192.000 giáo dân.
  • Hàng ngũ chức sắc, tu sĩ: Có 1 Tổng Giám mục, 1 Giám mục, 1 Giám mục phụ tá, 98 linh mục và gần 2.000 chức việc. Có 1 dòng tu nam (Dòng Chúa Cứu Thế tại Thái Hà) và 3 dòng tu nữ (Dòng Mến Thánh Giá, Dòng Thánh Phaolô thành Chartres, Dòng Nữ tử Bác ái Vinh Sơn) với 17 tu viện.
  • Hoạt động xã hội: Tổ chức Phòng khám Luca tại Tòa Tổng Giám mục, Caritas Hà Nội phối hợp Bệnh viện Mắt khám chữa miễn phí cho 150 bệnh nhân nghèo/năm; thành lập Trung tâm khuyết tật Hoàng Nguyên (Phú Xuyên). Có 12 nhóm, lớp mầm non tư thục do các nữ tu điều hành (6 cơ sở đã được cấp phép chính thức).
  • Tổ chức và dân cử: Ủy ban Đoàn kết Công giáo (UBĐKCG) TP. Hà Nội (thành lập năm 1985, trải qua 7 nhiệm kỳ đại hội, Chủ tịch là Linh mục Dương Phú Oanh) có 29 Ban Đoàn kết cấp huyện. Về dân cử và đoàn thể: 2 người tham gia MTTQ Thành phố; 18 người tham gia HĐND cấp huyện, 53 người tham gia MTTQ cấp huyện; 142 người tham gia HĐND cấp xã và 255 người tham gia MTTQ cấp xã.

Tin lành:

  • Lịch sử và tổ chức: Du nhập từ năm 1916 qua Hội Truyền giáo Phúc Âm Liên Hiệp (giáo sĩ W. Cadman tại Hàng Đào, Cầu Gỗ, Ngõ Trạm); được công nhận tư cách pháp nhân từ năm 1958. Tính đến tháng 12/2017, Tin lành tại Hà Nội có 167 điểm nhóm thuộc 34 tổ chức, hệ phái (trong đó 6 tổ chức, hệ phái đã được công nhận tư cách pháp nhân với 50 điểm nhóm). Có 1 cơ sở đào tạo (Trường Thánh kinh thần học Hà Nội) và 3 nhà thờ (Hà Nội, Sở Thượng, Thọ An).
  • Nhân sự và tín đồ: Có khoảng 60 chức sắc (19 mục sư, 9 mục sư nhiệm chức, 14 truyền đạo được công nhận; 18 chức sắc tự phong thuộc các hệ phái chưa công nhận), khoảng 100 chức việc và 8.400 tín đồ. Cơ cấu tín đồ gồm: khoảng 6.000 người Việt, khoảng 1.400 người Hàn Quốc và khoảng 1.000 người nước ngoài thuộc 40 quốc tịch khác. Có 4/7 điểm nhóm của người Hàn Quốc được UBND Thành phố chấp thuận sinh hoạt tạm thời (Bethel, Dòng sông Ân điển, Saeong, Se Gye Ro) và Hội thánh Tin lành quốc tế Hà Nội (thành lập 1995, khoảng 600 tín đồ).
  • Hoạt động xã hội: Thực hiện Chương trình mục vụ cai nghiện ma túy từ năm 1992, tổ chức khám chữa bệnh định kỳ tại Nhà thờ Ngõ Trạm (chương trình "Lan tỏa yêu thương" năm 2016 phục vụ khám bệnh nhân đạo). Có 2 người tham gia MTTQ cấp huyện và 3 người tham gia MTTQ cấp xã.

Cao Đài:

  • Lịch sử: Truyền bá ra Hà Nội từ năm 1937-1939 bởi Giáo tông Nguyễn Ngọc Tương cùng các chức sắc Nguyễn Văn Cui, Huỳnh Minh Chư, Tô Văn Pho; lập thánh thất năm 1939 tại phố Pavie (phố Hàn Thuyên) và năm 1947 tại số 48 phố Hòa Mã.
  • Cơ cấu họ đạo: Gồm 3 họ đạo: Họ đạo Cao Đài Thủ đô Hà Nội (Hội thánh Ban Chỉnh đạo, 48 Hòa Mã: 12 chức sắc, 4 chức việc, 174 tín đồ); Họ đạo Đặng Giang (Hội thánh Tây Ninh, thôn Đặng Giang, xã Hòa Phú, huyện Ứng Hòa: 13 chức sắc, 13 chức việc, 254 tín đồ); Họ đạo Phúc Đức (Hội thánh Tây Ninh, xã Sài Sơn - Quốc Oai và phường Tây Tựu - Bắc Từ Liêm: 5 chức sắc, 18 chức việc, 521 tín đồ).
  • Tham gia đoàn thể: 1 người tham gia MTTQ Thành phố, 2 người tham gia MTTQ cấp huyện, 1 người tham gia MTTQ cấp xã.

Baha'i và các hiện tượng tôn giáo mới:

  • Đạo Baha'i du nhập vào Việt Nam từ năm 1954, đăng ký hoạt động tháng 3/2007 và được công nhận tổ chức ngày 14/7/2008, duy trì quy mô cộng đồng nhỏ tại Hà Nội.
  • Luận án ghi nhận sự hiện diện của Minh sư đạo, Giáo hội Các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô (Mặc Môn) và nhiều hiện tượng tôn giáo mới (đạo lạ) đang tìm cách truyền bá.

Bảng tổng hợp số liệu các tôn giáo chính tại Hà Nội (thời điểm 2017-2018 theo luận án):

Tôn giáo Số lượng tín đồ Số lượng chức sắc / tu sĩ Số lượng chức việc Cơ sở thờ tự chính Cơ sở đào tạo
Phật giáo ~600.000 2.060 Tăng, Ni - 2.059 chùa (GHPGVN quản lý 1.696) 01 Trường Sơ cấp, 01 Trường Trung cấp
Công giáo ~192.000 01 Tổng Giám mục, 02 Giám mục, 98 Linh mục ~2.000 90 giáo xứ, >400 nhà thờ/nhà nguyện 02 cơ sở Đại Chủng viện Thánh Giuse
Tin lành ~8.400 60 (42 được công nhận, 18 tự phong) ~100 03 nhà thờ, 167 điểm nhóm 01 Trường Thánh kinh thần học
Cao Đài 949 30 chức sắc 35 04 thánh thất (thuộc 3 họ đạo) -

Chương 3: Công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay

Chương 3 đi sâu đánh giá việc thực hiện 7 nội dung cơ bản của CTTG tại Hà Nội:

  1. Công tác xây dựng, thể chế hóa và ban hành các văn bản lãnh đạo, quản lý.
  2. Xây dựng tổ chức, kiện toàn bộ máy và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) làm CTTG từ cấp thành phố đến cơ sở.
  3. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
  4. Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo (chấp thuận đăng ký sinh hoạt, phong phẩm, thuyên chuyển, xây dựng cơ sở thờ tự).
  5. Công tác vận động chức sắc, chức việc, tín đồ và xây dựng cốt cán phong trào tôn giáo.
  6. Công tác đối ngoại tôn giáo đối với các tổ chức tôn giáo quốc tế và người nước ngoài cư trú hợp pháp.
  7. Công tác đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật.

Về thực trạng bộ máy làm CTTG: Luận án phân tích cơ cấu tổ chức của Ban Tôn giáo trực thuộc Sở Nội vụ Hà Nội, gồm các phòng chuyên môn nghiệp vụ; đánh giá trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị và ngạch công chức của đội ngũ cán bộ chuyên trách.

Những vấn đề phức tạp đặt ra trong CTTG tại Hà Nội:

  • Tranh chấp đất đai và trật tự xây dựng liên quan đến cơ sở tôn giáo còn diễn biến phức tạp; một số vụ việc trở thành điểm nóng gây ảnh hưởng an ninh trật tự (vụ 42 Nhà Chung, Thái Hà, Núi Chẽ - Đồng Chiêm).
  • Tình trạng sinh hoạt tôn giáo ngoài cơ sở hợp pháp, việc thành lập các điểm nhóm Tin lành tự phát chưa đăng ký.
  • Quản lý sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài (đặc biệt là cộng đồng người Hàn Quốc và Hội thánh Tin lành quốc tế) đặt ra yêu cầu phối hợp liên ngành.
  • Sự xuất hiện và lan rộng của các hiện tượng tôn giáo mới (đạo lạ), hoạt động mê tín dị đoan và việc lợi dụng từ thiện nhân đạo tại một số cơ sở thờ tự.
  • Trình độ, năng lực xử lý tình huống phát sinh về tôn giáo của CBCC cấp cơ sở (xã, phường) còn lúng túng, thiếu tính kiên trì và kinh nghiệm thực tiễn.

Chương 4: Dự báo tình hình tôn giáo và một số khuyến nghị giải pháp nhằm nâng cao công tác tôn giáo ở Hà Nội thời gian tới

Dự báo xu hướng:

  • Xu hướng gia tăng số lượng tín đồ và đa dạng hóa phương thức sinh hoạt tôn giáo; sự đan xen giữa nhu cầu tâm linh truyền thống và nhu cầu tôn giáo đô thị hiện đại.
  • Xu hướng quốc tế hóa hoạt động tôn giáo tiếp tục gia tăng do tác động của hội nhập kinh tế và sự gia tăng cư dân nước ngoài sinh sống tại Thủ đô.
  • Các hiện tượng tôn giáo mới tiếp tục biến tướng, lợi dụng không gian đô thị và mạng xã hội để phát triển tín đồ.
  • Nguy cơ các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng vấn đề đất đai, nhân quyền, tự do tôn giáo để kích động mâu thuẫn, tạo điểm nóng chính trị - xã hội.

Các nhóm khuyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả CTTG:

  1. Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm lãnh đạo của hệ thống chính trị Thành phố đối với công tác tôn giáo trong tình hình mới.
  2. Nhóm giải pháp về hoàn thiện cơ chế, thể chế hóa các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 sát với đặc thù quản lý đô thị của Thủ đô Hà Nội.
  3. Nhóm giải pháp về củng cố tổ chức bộ máy, chuẩn hóa ngạch công chức và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức tôn giáo học, lý luận chính trị cho đội ngũ CBCC chuyên trách từ thành phố đến cơ sở.
  4. Nhóm giải pháp về đổi mới công tác vận động quần chúng, phát huy vai trò của Ủy ban MTTQ và Ủy ban Đoàn kết Công giáo; động viên chức sắc, tín đồ tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước và hoạt động an sinh xã hội.
  5. Nhóm giải pháp về nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước: Tập trung xử lý dứt điểm các vướng mắc về đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cơ sở tôn giáo; quản lý chặt chẽ hoạt động xây dựng cơ sở thờ tự; tạo điều kiện pháp lý thuận lợi cho các điểm nhóm sinh hoạt hợp pháp của người Việt Nam và người nước ngoài.
  6. Nhóm giải pháp về chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng tôn giáo vi phạm pháp luật và giải quyết các hiện tượng tôn giáo mới lệch chuẩn.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và vận dụng thành công khung lý thuyết đa diện (lý thuyết thực thể tôn giáo, cấu trúc - chức năng và lý thuyết xung đột) vào nghiên cứu đời sống tôn giáo đô thị tại một địa bàn trung tâm chính trị - hành chính đặc thù như Hà Nội.
  • Làm rõ tính quy luật và những mâu thuẫn nảy sinh trong mối quan hệ giữa chức năng xã hội của tôn giáo với yêu cầu quản lý nhà nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Phác thảo bức tranh toàn cảnh, chi tiết, cập nhật về số liệu, tổ chức, nhân sự và hoạt động của tất cả các tôn giáo đang hiện diện trên địa bàn Hà Nội sau khi mở rộng địa giới hành chính năm 2008 đến năm 2018.
  • Đánh giá toàn diện kết quả, hạn chế và chỉ ra các nguyên nhân căn bản trong việc triển khai 7 nội dung CTTG của toàn bộ hệ thống chính trị Thành phố Hà Nội.
  • Cung cấp cơ sở khoa học, dự báo xu hướng và hệ thống các khuyến nghị giải pháp khả thi giúp các cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc TP. Hà Nội nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và công tác vận động quần chúng tôn giáo theo tinh thần Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian khép lại tại thời điểm Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chuẩn bị có hiệu lực thi hành (01/01/2018), do đó chưa thể đánh giá tác động thực tiễn của đạo luật này trong quá trình triển khai áp dụng lâu dài.
  • Một số số liệu liên quan đến các nhóm đạo tràng tự phát sinh hoạt tại gia và các hệ phái Tin lành chưa được công nhận tư cách pháp nhân chưa thể thống kê triệt để do tính chất hoạt động biến động, không cố định địa điểm.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Nghiên cứu, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 trên địa bàn Hà Nội sau 5-10 năm áp dụng.
  • Đi sâu nghiên cứu cơ chế đặc thù trong quản lý nhà nước đối với đất đai, xây dựng cơ sở tôn giáo tại đô thị loại đặc biệt.
  • Khảo sát chuyên đề về sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người nước ngoài cư trú tại Hà Nội trong bối cảnh toàn cầu hóa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cao:

  • Đối với các cơ quan lãnh đạo, quản lý: Ban Tôn giáo, Sở Nội vụ, Ban Dân vận Thành ủy, Ủy ban MTTQ Thành phố Hà Nội và các quận, huyện, thị xã có thể tham khảo trực tiếp các đánh giá thực trạng (Chương 3) và hệ thống giải pháp (Chương 4) để hoạch định chính sách, hoàn thiện quy chế phối hợp và đào tạo đội ngũ cán bộ.
  • Đối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu: Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu Tôn giáo, các trường chính trị tỉnh, thành phố và trung tâm bồi dưỡng chính trị có thể sử dụng Chương 1 (tổng quan tài liệu và khung lý thuyết) cùng Chương 2 (diện mạo và số liệu tôn giáo Hà Nội) làm giáo trình, tài liệu tham khảo chuyên đề cho học viên, nghiên cứu sinh ngành Tôn giáo học, Xã hội học và Quản lý nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát bao nhiêu tôn giáo chính thức trên địa bàn Thành phố Hà Nội? Luận án khảo sát các tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân và đang hoạt động tại Hà Nội gồm: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Hồi giáo (Islam), Minh sư đạo, Baha'i và Giáo hội Các Thánh hữu ngày sau của Chúa Giêsu Kytô (Giáo hội Mặc Môn), cùng các hệ phái Tin lành chưa công nhận và các hiện tượng tôn giáo mới.

2. Số lượng tín đồ và cơ sở thờ tự của Phật giáo và Công giáo tại Hà Nội theo thống kê của luận án là bao nhiêu? Phật giáo có khoảng 600.000 tín đồ, 2.060 Tăng Ni và 2.059 ngôi chùa (trong đó GHPGVN TP. Hà Nội quản lý 1.696 chùa). Công giáo có khoảng 192.000 giáo dân, 90 giáo xứ thuộc 3 giáo phận (Hà Nội, Hưng Hóa, Bắc Ninh), hơn 400 nhà thờ, nhà nguyện và 101 chức sắc (Tổng Giám mục, Giám mục, Linh mục).

3. Tình hình hoạt động của đạo Tin lành có nét đặc thù nào về thành phần tín đồ người nước ngoài? Đạo Tin lành tại Hà Nội có khoảng 8.400 tín đồ, trong đó có khoảng 2.400 tín đồ là người nước ngoài (khoảng 1.400 người Hàn Quốc sinh hoạt tại các điểm nhóm như Bethel, Dòng sông Ân điển, Saeong, Se Gye Ro và khoảng 1.000 tín đồ thuộc 40 quốc tịch khác sinh hoạt trong Hội thánh Tin lành quốc tế Hà Nội).

4. Khung lý thuyết của luận án kết hợp những lý thuyết cụ thể nào? Luận án kết hợp 3 lý thuyết gồm: Lý thuyết thực thể tôn giáo (nghiên cứu niềm tin, hành vi và cộng đồng tôn giáo trong Chương 2); Lý thuyết cấu trúc - chức năng của Durkheim, Weber, Malinowski (nghiên cứu chức năng xã hội của tôn giáo và bộ máy CTTG trong Chương 2 và Chương 3); Lý thuyết xung đột của Karl Marx, Dahrendorf, Coser, Rapoport (nghiên cứu mâu thuẫn, độ vênh giữa tôn giáo và quản lý nhà nước trong Chương 3 và Chương 4).

5. Luận án nêu các vụ việc phức tạp điển hình nào về tôn giáo từng xảy ra tại Hà Nội? Luận án dẫn chứng các vụ việc tranh chấp đất đai, khiếu kiện đông người điển hình như vụ việc tại số 42 Nhà Chung, giáo xứ Thái Hà, khu vực Núi Chẽ - Đồng Chiêm (xảy ra trong các năm 2007-2008) và vụ việc nhóm trẻ tình thương tại chùa Bồ Đề (quận Long Biên).

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Tôn giáo và công tác tôn giáo ở Hà Nội hiện nay" của tác giả Đàm Tuấn Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống, phản ánh bức tranh diện mạo tôn giáo đa dạng tại Thủ đô Hà Nội trong giai đoạn đổi mới và mở rộng địa giới hành chính. Bằng việc kết hợp các lý thuyết thực thể tôn giáo, cấu trúc - chức năng và xung đột, luận án đã phân tích sâu sắc thực trạng hoạt động của các tôn giáo cũng như kết quả, bất cập trong công tác tôn giáo của hệ thống chính trị thành phố. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học, số liệu khảo sát thực tế và các giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong bối cảnh thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.