Chương 1. Cơ sở lý luận về kết nối vùng trong phát triển du lịch theo hướng bền vững Chương 2. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng kết nối vùng trong phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình theo hướng bền vững Chương 4.
Giải pháp tăng cường kết nối vùng trong phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình theo hướng bền vững Phần IV. Kết luận và kiến nghị 8 PHẦN II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ KẾT NỐI VÙNG TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Nghiên cứu các nội dung hợp tác, kết nối vùng trong phát triển du lịch Khi nghiên cứu về liên kết du lịch xuyên biên giới giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, Tosun và Parpairis (2001) đã đưa ra nhận định rằng, sự hợp tác có tính chất xuyên biên giới được diễn ra ở cấp chính phủ (khu vực công) bằng các dự án đầu tư và ở cả cấp độ doanh nghiệp (khu vực tư nhân) nhằm thực hiện nhiều nội dung hoạt động liên kết du lịch. Trong đó, tiếp thị điểm đến du lịch là một trong những nội dung liên kết phổ biến nhất nhằm xây dựng các chương trình xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch, tất cả vì mục tiêu duy trì lợi ích chung giữa 2 quốc gia, cho các bên liên quan và kể cả khách du lịch [103]. Một nghiên cứu khác của Tosun và cộng sự (2005) cũng đưa ra nhận định: Du lịch là công cụ có giá trị trong việc thiết lập các liên kết thương mại tốt hơn giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ vì sự gần gũi về mặt địa lý và nền tảng văn hóa xã hội. Quá trình hợp tác giữa 2 quốc gia là cơ hội để thống nhất xây dựng các chiến lược quảng bá du lịch như: thiết kế trang Website du lịch dùng chung; tổ chức hội chợ du lịch thế giới; đào tạo nguồn nhân lực du lịch; chiến lược giảm giá phương tiện vận tải hành khách và đặc biệt chiến lược liên kết để giảm sự phụ thuộc vào các công ty lữ hành quốc tế; chiến lược phát triển sản phẩm du lịch khác biệt, tránh trùng lắp giữa 2 nước [105].
Điểm nhấn cho sự hợp tác xuyên biên giới đó chính là vượt qua mọi rào cản của vấn đề mâu thuẫn chính trị, lịch sử của 2 nước, là cơ hội thúc đẩy nền hòa bình cho toàn khu vực. Nhìn chung, nghiên cứu này đã đóng góp vào cơ sở lý luận cũng như thực tiễn về hợp tác xuyên biên giới để thực hiện các hoạt động tiếp thị điểm đến, quảng bá phát triển du lịch trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở góc độ phân tích định tính, mô tả, thiếu định lượng. Công trình nghiên cứu của Prokkola (2007) đã đưa ra các nội dung liên kết vùng du lịch xuyên biên giới giữa Thụy Điển và Phần Lan, gồm: hợp tác xây dựng điểm đến, chiến lược tiếp thị và kết nối mạng lưới doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân trong cung cấp các sản phẩm dịch vụ du lịch [85].
Prokkola đi đến nhận định rằng, việc hình thành hội đồng vùng và thành lập các văn phòng xúc tiến du lịch ở khu vực biên giới là nền tảng 9 quyết định sự bền vững trong liên kết du lịch xuyên biên giới. Về cơ bản, nghiên cứu của Prokkola đã mở ra hướng tiếp cận nghiên cứu về kết nối vùng trong phát triển du lịch có tính chất xuyên biên giới, vượt ngoài phạm vi lãnh thổ của một quốc gia. Nghiên cứu gần đây của Kuznetsova và cs (2017) đã đề cập đến sự cần thiết phát triển một siêu cụm ngành du lịch để thúc đẩy kết nối vùng du lịch ở trên lãnh thổ Cộng hòa Liên Bang Nga [76]. Việc hình thành các siêu cụm ngành du lịch có quy mô lớn để cùng hỗ trợ, hợp tác vừa cạnh tranh lành mạnh, hướng đến xây dựng thương hiệu du lịch có sức lan tỏa trên phạm vi toàn cầu, đóng góp vào những nỗ lực chung trong quá trình hiện đại hóa nền kinh tế của nước Nga.
Theo quan điểm của Kuznetsova và cs, một siêu cụm du lịch được hình thành trên cơ sở có sự thống nhất và hợp tác giữa chính quyền các địa phương (Bang/vùng) thông qua ban hành các khung khổ pháp lý và cam kết, chính sách thuế và ngân sách hỗ trợ của liên bang; kết nối hệ thống đường sắt; ban hành tiêu chuẩn du lịch thống nhất và công bố thương hiệu du lịch toàn vùng; lựa chọn một trường đại học uy tín để đảm nhận đào tạo bồi dưỡng nhân viên du lịch cho toàn cụm. Về mặt kỹ thuật, cần phát triển một trung tâm hậu cần du lịch chung với mục đích làm cho khách du lịch khi đến tham quan ở một siêu cụm du lịch cảm nhận được sự thân thiện, một môi trường mở trong toàn vùng, bất kể là khách du lịch nội địa hay quốc tế. Có thể cho rằng, ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu này đó chính là nhấn mạnh đến vai trò của nhà nước, chính quyền địa phương trong việc xây dựng chiến lược và chương trình phát triển du lịch. Hạn chế của nghiên cứu này là thiếu các chỉ tiêu định lượng và định tính trong đánh giá, phân tích thực trạng kết nối nội vùng để phát triển du lịch.
Nghiên cứu này cho rằng, xu thế mới trong phát triển du lịch sẽ xúc tiến việc kết nối các vùng phụ cận (kết nối nội vùng) có lợi thế về tài nguyên, các nguồn lực sẵn có để xây dựng và phát triển thương hiệu du lịch đặc hữu của từng địa phương. Trong đó, mỗi địa phương (vùng) có thể thực hiện chiến lược kết nối giữa trung tâm du lịch với các vùng phụ cận để đa dạng hóa sản phẩm; hoặc chiến lược phát triển cụm ngành du lịch theo định hướng tập trung chuyên môn hóa (nếu như địa phương hay vùng đó có tiềm lực khoa học công nghệ và kỹ thuật) hoặc liên kết ngành để phát triển du lịch (áp dụng cho những địa phương đang ở trình độ phát triển thấp). Nghiên cứu của Maximilian có ý nghĩa về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn 10 trong phân tích kết nối nội vùng trong phát triển du lịch ở phạm vi của một địa phương. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc đánh giá, phân tích thực trạng kết nối nội vùng trong phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình.
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến kết nối vùng trong phát triển du lịch Công trình nghiên cứu của Golam và cs (2009) đã tập trung phân tích hợp tác kết nối vùng trong phát triển du lịch ở khu vực Nam Á và chỉ ra nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cho toàn vùng nếu như giữa các quốc gia thiết lập được sự hợp tác liên kết nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tự nhiên và văn hóa đa dạng, trong đó có văn hóa phật giáo [64]. Tuy nhiên, tác giả Golam và cs cho rằng, rào cản đối với khu vực Nam Á trong liên kết hợp tác phát triển du lịch đó là thủ tục cấp thị thực cho khách du lịch không được đổi mới; hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông không có sự kết nối, đặc biệt là giao thông đường bộ và đường sắt; dịch vụ xe buýt liên quốc gia rất hạn chế với lý do giữa các nước chưa có chính sách cấp thị thực cho lái xe xuyên biên giới; cơ sở dịch vụ lưu trú kém phát triển; an ninh chính trị bất ổn, khủng bố gia tăng, đặc biệt tình trạng tranh chấp lãnh thổ tại khu vực biên giới giữa các quốc gia là yếu tố cản trở lớn nhất để liên kết phát triển du lịch. Các yếu tố ngoại sinh liên quan đến hệ thống phạm vi lãnh thổ rộng hơn một vùng du lịch, đó là một quốc gia, nhóm quốc gia hoặc thậm chí là toàn cầu. Ngược lại, nhóm yếu tố nội sinh chủ yếu được tạo ra bên trong nội bộ một khu vực, một vùng du lịch.
Trong khi đó, các yếu tố ngẫu nhiên không được phân loại rõ ràng giữa 2 nhóm ngoại sinh và nội sinh. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tiềm lực của nền kinh tế, cơ thế thị trường còn yếu là những yếu tố ngoại sinh làm cản trở quá trình hợp tác liên kết du lịch – trường hợp nghiên cứu tại 6 thành phố tự trị (trực thuộc trung ương) của Ba Lan, quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi sau khi xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Bên cạnh đó, tư tưởng, thái độ nhận thức về nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây vẫn còn đã tác động tiêu cực đến sự liên kết phát triển du lịch; kiến thức và kinh nghiệm quản lý phát triển du lịch của chính quyền địa phương đã chi phối mạnh mẽ và tạo ra rào cản lớn đến sự hợp tác của các bên liên quan trong lĩnh vực du lịch. Các vấn đề tài chính của các thành phố, tình hình tài chính thiếu ổn định của khu vực tư nhân, lợi ích kinh tế không thỏa đáng, vấn đề tài chính của cấu trúc quan hệ đối 11 tác là rào cản liên kết phát triển du lịch.
Đối với nhóm yếu tố nội sinh, nghiên cứu cho thấy sự sẵn lòng hợp tác liên kết du lịch giữa các thành phố trực thuộc trung ương có thể được xác định bởi sự khác biệt về mức độ phát triển du lịch. Những thành phố có mức độ phát triển du lịch càng cao thì thường ưa thích tài trợ cho một số hoạt động riêng (ví dụ như tiếp thị điểm đến) thay vì hành động chung, do đó sẽ rất khó để phát triển một dịch vụ du lịch dựa trên sự gắn kết giữa các thành phố này. Bên cạnh đó, yếu tố pháp lý (cơ chế phân cấp, trao quyền) cho các tổ chức, chính quyền địa phương, cũng như khoảng cách địa lý, chính trị cũng tác động đến quá trình liên kết du lịch giữa các địa phương. Trong đó, khoảng cách địa lý càng xa thì càng làm tăng chi phí giao dịch và gây trở ngại cho sự hợp tác.
Nghiên cứu gần đây của Gustav (2016) đã tổng hợp các thách thức và rào cản đối với quá trình hợp tác liên kết du lịch xuyên biên giới gồm: xã hội, văn hóa, kinh tế, chính trị, các quy định, tổ chức và quản trị [66]. Theo Gustav, quá trình toàn cầu hóa đã giúp các quốc gia xích lại gần nhau hơn thông qua các hoạt động kinh tế, xã hội và các mối quan hệ chính trị góp phần tạo nên một hệ thống phụ thuộc lẫn nhau.