Chương 1: Cơ sở lí luận về quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học trong bối cảnh hiện nay. Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học thành phố Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lý giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động trải nghiệm cho học sinh các trường tiểu học thành phố Hà Nội trong bối cảnh hiện nay. 14 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CHO HỌC SINH CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống đã được quan tâm và khẳng định trong Kế hoạch hành động DaKar về giáo dục cho mọi người (Senegan 2000). Theo đó, mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình giáo dục kĩ năng sống phù hợp. Xác định kĩ năng sống của người học là một trong những tiêu chí để đánh giá về chất lượng giáo dục.
Trong những năm gần đây kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh các cấp rất được quan tâm va được đưa vào chương trình giáo dục tổng thể. Việc đánh giá chất lượng giáo dục có tinh đến những tiêu chí đánh giá kĩ năng sống của người học. Hiện nay, các nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống được triển khai rộng rãi, có thể khái quát theo các hướng nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh đã được khảng định ương đối nhất quán trong những công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam. Hầu hết các công trình nghiên cứu khảo sát thực tiễn đều khảng định vai trò của giáo dục kĩ năng sống và mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nhằm trang bị cho người học những kĩ năng cơ bản để học tồn tại và phát triển trong điều kiện xã hội luôn biến đổi khôn lường.
Điều này thể hiện rõ trong các Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh và các nhóm đối tượng đặc thù trong công đồng dân cư ở Việt Nam, chẳng hạn Chương trình “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS 15 cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”; Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em, Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học, THCS, Chương trình giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT (Dự án VIE 01/10 do UNFPA tài trợ). Tại Hội thảo Bali đã xác định mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy của các nước vùng Châu Á - Thái Bình Dương là: nhằm nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống. Các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống của các tác giả như: Nguyễn Thị Huệ [70]; Phạm Minh Hạc [52]; Nguyễn Thị Thu Hằng [62]; Nguyễn Thanh Bình [11, 12]; Trần Thị Minh Hằng cũng nhất quán về mục tiêu của giáo dục kĩ năng sống là: “nâng cao tiềm năng của con người để có hành vi thích ứng và tích cực nhằm đáp ứng nhu cầu, sự thay đổi, các tình huống của cuộc sống hàng ngày, đồng thời tạo ra sự thay đổi và nâng cao chất lượng cuộc sống”. Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạo đã nghiên cứu để đưa giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong chương trình giáo dục thể hiện thông qua hoạt động trải nghiệm trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.
Ở chương trình này mục tiêu giáo dục, nội dung chương trình và các giai đoạn giáo dục trải nghiệm để hình thành và phát triển kĩ năng sống cho học sinh. Trong Chương trình “giáo dục những giá trị sống”, 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ đã được đề cập [128]. Những nghiên cứu về kĩ năng sống trong thời điểm đó đã cố gắng thống nhất quan niệm chung về kĩ năng sống, cũng như đưa ra được một bảng danh mục các kĩ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Tuy nhiên, đa số các công trình nghiên cứu về kĩ năng sống ở giai đoạn này đều tiếp cận quan niệm về kĩ năng sống theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kĩ năng xã hội.
Dự án do UNESCO tiến hành tại một số nước 16 trong đó có các nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu về kĩ năng sống nêu trên [14]. Tiếp theo, trước yêu cầu toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế nên hệ thống giáo dục của các nước đã và đang thay đổi theo định hướng khơi dậy và phát huy tối đa các tiềm năng của người học; đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu như: năng lực thích ứng, năng lực tự hoàn thiện, năng lực hợp tác, năng lực hoạt động xã hội… để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Với sự phát triển xã hội hiện nay nội dung giáo dục kĩ năng sống trong Chương trình giáo dục kĩ năng sống cũng thay đổi mạnh mẽ mang tính toàn cầu, mỗi quốc gia đã cụ thể hóa những nội dung đó trong chương trình giáo dục kĩ năng sống ở quốc gia mình. Để có hệ thống kĩ năng sống bắt kịp với xu thế phát triển hiện đại, mỗi nền giáo dục phải xác định hệ giá trị cho người học để từ đó xác định hệ thống kĩ năng sống cho phù hợp.
Ví dụ ở Thái Lan cũng công bố 7 giá trị truyền thống trong hệ giá trị của Thái Lan cần được giáo dục và cho rằng những giá trị sống được hình thành và phát triển thành các kĩ năng sống sẽ tạo nên nhân cách con người và có vai trò quan trọng trong công cuộc phát triển xã hội. Tại Trung Quốc giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống ở bậc tiểu học và trung học cơ sở cũng được quán triệt rộng rá từ các cấp quản lý. Họ coi giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống là giáo dục những giá trị truyền thống dân tộc trong lễ giáo với mọi người trong nước và ngoài nước; hệ giá trị cần giáo dục là giá trị thời đại. Chiến lược phát triển giáo dục của Hoa Kỳ đã xác định giáo dục kĩ năng sống, giá trị sống ở trường phổ thông gồm 12 nội dung với một kế hoạch triển khai rất cụ thể, từ xây dựng chương trình giáo dục, tài liệu giảng dạy, các hoạt động thực hành và tạo môi trường để người học thể hiện những kĩ năng sống … Qua tổng kết kinh nghiệm các nghiên cứu về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho thấy: nội dung giáo dục kĩ năng sống được triển khai ở các nước 17 vừa thể hiện cái chung vừa thể hiện những nét riêng của từng quốc gia.
Ngay trong một quốc gia, nội dung giáo dục kĩ năng sống trong lĩnh vực giáo dục chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo trong giáo dục không chính quy ở một số nước, những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, nghe, nói được coi là những kĩ năng sống cơ sở trong khi trong giáo dục chính quy, các kĩ năng sống cơ bản lại được xác định phong phú hơn theo các lĩnh vực quan hệ của cá nhân. Cùng với những nghiên cứu nhằm xác định nội dung giáo dục kĩ năng sống, các nghiên cứu về những thành tố khác của giáo dục kĩ năng sống như phương pháp, hình thức giáo dục kĩ năng sống cũng được triển khai khá sâu, rộng. Hiện nay, đã có hơn 155 nước trên thế giới quan tâm đến việc quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống bằng cách đưa kĩ năng sống vào các nhà trường, trong đó có 143 nước đã đưa vào chương trình chính khoá ở Tiểu học và Trung học.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho HS ở các nước được thực hiện theo ba hình thức: + Kĩ năng sống là một môn học riêng biệt. + Kĩ năng sống được tích hợp vào một vài môn học chính. + Kĩ năng sống được tích hợp vào nhiều hoặc tất cả các môn học trong chương trình. Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa kĩ năng sống thành một môn học riêng biệt, ví dụ như: Ma-la-wi, Căm-pu-chia,.
Còn đa số các nước, để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp kĩ năng sống vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn khoa học xã hội như: giáo dục sức khoẻ, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường. Một số nước đã sử dụng tiếp cận "Whole School Approach" trong đó có hình thức xây dựng "Trường học thân thiện" nhằm thúc đẩy việc giáo dục kĩ năng sống cho HS trong nhà trường [42]. 18 Về phương pháp giáo dục các kĩ năng sống, nghiên cứu của Quest International (1990) dựa trên nghiên cứu về chiến lược dạy và học từ nhiều kết quả nghiên cứu khác đã đề xuất “phương pháp luận học tập kỹ năng sống” gồm 4 phần dựa trên cơ sở 6 giả thiết mà các nhà nghiên cứu đã quyết định hình thành nên cơ sở của việc học. Những giả thiết là: 1/ Học tập hướng tới mục đích; 2/ Học tập là kết nối thông tin mới với kiến thức trước đó; 3/ Học tập là có chiến lược; 4/ Học tập diễn ra theo các giai đoạn; 5/ Học tập là đệ quy; và 5/ Học tập bị ảnh hưởng bởi sự phát triển [72].
Theo quan điểm của Tổ Chức Y tế Thế giới (WHO: 1993), các kỹ năng sống cho học sinh được hình thành tốt nhất thông qua phương pháp học tập tích cực. Trong các phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm, việc hình thành các kỹ năng sống phụ thuộc vào quá trình học tập được tổ chức cùng với người khác thông qua hoạt động nhóm như quan sát, luyện tập hoạt động cặp, động não, sắm vai, tranh luận hoặc thảo luận. Nghiên cứu về kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình có tính hệ thống và tàn diện.