Tổng quan luận án
Công trình khoa học mang tên "Quản lý chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện công lập Việt Nam" do nghiên cứu sinh Cao Hưng Thái thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Thị Vân Hạnh và GS. Nguyễn Công Khẩn. Luận án thuộc chuyên ngành Quản lý hành chính công (mã số: 62 34 82 01) và được hoàn thành vào năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Theo lập luận của tác giả, sức khỏe là vốn quý nhất của con người và là quyền cơ bản trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12 có hiệu lực từ ngày 01/01/2011, hệ thống khám chữa bệnh (KCB) Việt Nam đã có nhiều chuyển biến, song công tác quản lý chất lượng dịch vụ y tế công lập đang đối mặt với bốn thách thức lớn:
- Mâu thuẫn cung - cầu: Nhu cầu KCB của người dân gia tăng nhanh chóng về số lượng và chất lượng do sự thay đổi mô hình bệnh tật (sự gia tăng của bệnh không lây nhiễm, dịch bệnh truyền nhiễm mới nổi, tai nạn thương tích) và mức sống nâng cao. Trong khi đó, năng lực cung ứng của các bệnh viện còn hạn chế, cơ sở vật chất xuống cấp, tình trạng quá tải diễn ra nghiêm trọng tại các bệnh viện tuyến Trung ương và tuyến cuối ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Yêu cầu hội nhập và chuyển giao công nghệ: Khoa học công nghệ y tế và công nghệ thông tin phát triển nhanh đòi hỏi các bệnh viện công lập phải đổi mới phương thức quản lý để đạt chuẩn chất lượng tối thiểu và từng bước tiếp cận chuẩn mực khu vực, quốc tế.
- Vai trò chủ đạo của hệ thống bệnh viện công lập: Tính đến ngày 31/12/2016, cả nước có 1.424 bệnh viện với 252.600 giường bệnh, trong đó bệnh viện công lập chiếm 88% về số lượng (1.252 cơ sở) và 95% về quy mô giường bệnh (239.544 giường). Hơn 91% lượt khám ngoại trú và 95% lượt điều trị nội trú của người dân được thực hiện tại các bệnh viện công. Đồng thời, chủ trương giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đòi hỏi Nhà nước phải có cơ chế quản lý, kiểm soát để đánh giá chi phí và hiệu quả.
- Đặc thù của dịch vụ y tế: Khám chữa bệnh liên quan trực tiếp đến tính mạng con người, người bệnh không có hoặc có rất ít cơ hội lựa chọn cơ sở y tế khi gặp biến cố sức khỏe khẩn cấp.
Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu hụt các nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ quản lý hành chính công nhằm làm sáng tỏ cả hai cấp độ: quản lý nhà nước về chất lượng KCB ở tầm vĩ mô và quản trị chất lượng nội bộ tại các bệnh viện công lập, nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chính sách.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích: Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập dựa trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, phân tích làm rõ các nội dung có thể kế thừa và các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
- Tổng hợp và bổ sung cơ sở lý luận về quản lý chất lượng KCB của bệnh viện, làm rõ các khái niệm, nội dung quản lý nhà nước và quản trị bệnh viện, các mô hình và kinh nghiệm quốc tế.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập ở Việt Nam, chỉ rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
- Tổng hợp các quan điểm, định hướng và đề xuất một số giải pháp quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học
Luận án giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu và tương ứng với ba giả thuyết khoa học:
- Câu hỏi nghiên cứu 1: Chất lượng và quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập được hiểu như thế nào, đo lường bằng gì, bao gồm những nội dung gì, phụ thuộc vào những yếu tố nào; kinh nghiệm quốc tế có thể rút ra bài học gì cho Việt Nam?
- Câu hỏi nghiên cứu 2: Thực trạng quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập (quản lý nhà nước và quản lý tại bệnh viện) hiện nay diễn ra như thế nào; việc thí điểm Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện đạt kết quả ra sao?
- Câu hỏi nghiên cứu 3: Các quan điểm, định hướng quản lý chất lượng KCB hiện nay là gì; những giải pháp quản lý nhà nước nào cần thực hiện để nâng cao chất lượng KCB của bệnh viện công lập Việt Nam trong thời gian tới?
- Giả thuyết khoa học 1: Các khái niệm liên quan chất lượng và quản lý chất lượng KCB của bệnh viện chưa rõ ràng, còn được hiểu khác nhau; nội dung và các yếu tố tác động chưa được làm rõ; tồn tại khoảng cách giữa thực tiễn quản lý chất lượng tại Việt Nam và các nước trên thế giới.
- Giả thuyết khoa học 2: Hoạt động quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập Việt Nam còn nhiều hạn chế, bất cập; chưa có bộ công cụ đo lường chuẩn hóa để đánh giá toàn diện; chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của nhân dân.
- Giả thuyết khoa học 3: Cần có giải pháp mới và đổi mới phương thức quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập phù hợp với quan điểm của Đảng, Nhà nước và xu thế hội nhập quốc tế.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý chất lượng KCB của bệnh viện, bao gồm quản lý nhà nước về chất lượng KCB và quản lý chất lượng tại bệnh viện.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Tập trung vào hoạt động quản lý nhà nước ở cấp Trung ương (chủ thể Nhà nước) và hoạt động quản lý chất lượng tại các bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế (chủ thể bệnh viện).
- Về thời gian: Giai đoạn từ năm 2011 trở lại đây (mốc Luật Khám bệnh, chữa bệnh có hiệu lực thi hành), có tham chiếu dữ liệu trước năm 2011.
- Về không gian: Hệ thống bệnh viện công lập trong cả nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai nhóm chính:
Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Các hướng nghiên cứu trước đây được điểm lại
- Về quản lý nhà nước đối với chất lượng KCB:
- Nghiên cứu quốc tế: Maimunah A. Hamid, Sondi Sararaks, A.Al-Assaf, Low Lee Lan (Viện Nghiên cứu hệ thống y tế Bộ Y tế Malaysia) phân tích các hợp phần xúc tiến, thực hiện và quản lý kết quả chất lượng y tế. Ali Mohammad Mosadeghrad khảo sát 222 bên liên quan tại Iran chỉ ra chất lượng chăm sóc sức khỏe là sản phẩm hợp tác giữa bệnh nhân và nhà cung cấp. Jack A. Meyer và cộng sự (2004) xác định văn hóa và quy trình là yếu tố then chốt tại 4 bệnh viện hiệu quả cao ở Mỹ. Buciuniene và cộng sự (2006) khảo sát 72 phiếu điều tra tại Latvia (tỷ lệ phản hồi 80,6%) ghi nhận 39,7% bệnh viện áp dụng hệ thống quản lý chất lượng (QLCL). Heidari Gorji AM và Farooquye JA áp dụng phân tích phương sai ANOVA so sánh tiêu chí Baldrige tại Ấn Độ và Iran. Selbmann HK phân tích 4 cấp độ đánh giá chất lượng tại Đức theo mô hình EFQM và ISO.
- Nghiên cứu trong nước: Các tài liệu của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (2012, 2015) và sách của Lương Ngọc Khuê và cộng sự (2016) hệ thống hóa Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện. Luận án của Nguyễn Huy Quang làm rõ quản lý nhà nước bằng pháp luật trong y tế; luận án của Phạm Văn Tác nghiên cứu quản lý nhà nước về cán bộ chuyên khoa sau đại học; luận án của Nguyễn Minh Lợi tập trung vào đào tạo nhân lực điều dưỡng; bài viết của Lê Quang Cường chỉ ra vai trò điều tiết của Nhà nước trong cơ chế thị trường y tế; luận án của Trương Bảo Thanh nghiên cứu chính sách cạnh tranh; luận án của Lê Thu Thủy (2018) nghiên cứu nâng cao chất lượng KCB tại các bệnh viện Trung ương trên địa bàn Hà Nội; nghiên cứu của Trịnh Thị Lý đánh giá việc áp dụng ISO, TQM, JCI tại Hải Phòng; luận án của Vũ Tiến Dũng nghiên cứu bồi dưỡng viên chức sau đại học tại các bệnh viện hạng đặc biệt.
- Về quản lý chất lượng tại bệnh viện:
- Nghiên cứu quốc tế: Alaraki M. nghiên cứu TQM tại 4 bệnh viện ở Ả Rập Xê Út (King Khaled, King Fahad, Phụ sản và Nhi, Đa khoa Hagel) xác nhận tương quan giữa 8 phương pháp TQM và hiệu suất hoạt động ($r = 0,9; P = 0,0001$). Nicolay CR và cộng sự tổng quan 34/1.595 nghiên cứu về can thiệp cải tiến chất lượng phẫu thuật (PDCA, 6 Sigma, Lean). Sussmane JB và cộng sự đo lường chất lượng tại đơn vị hồi sức tích cực nhi khoa (PICU), nâng tỷ lệ tuân thủ lên 99,74%. Lebuisson và cộng sự (Pháp) mô tả 14 tháng triển khai ISO 9001-2000 trong điều trị laser khúc xạ. Lorenzen và cộng sự (Đức) chứng minh điểm hài lòng của sinh viên tăng từ 2,7 (năm 2003) lên 3,9 (năm 2007) sau khi áp dụng ISO 9001-2000. Helbig và cộng sự (Đức) xử lý 5 nhóm vấn đề để rút ngắn thời gian chờ khám. Beholz và cộng sự (2003) ghi nhận chi phí lâm sàng giảm 6,1% và xét nghiệm giảm 35% trong phẫu thuật tim mạch khi áp dụng ISO. Song P. và cộng sự (Trung Quốc) áp dụng tiêu chuẩn JCI giúp giảm tỷ lệ kê đơn kháng sinh từ 12,7% xuống 9,9% ($P < 0,01$) và tiết kiệm 6 triệu nhân dân tệ hàng năm. Tekkesin N. và cộng sự tại Bệnh viện Memorial ghi nhận lỗi tiền phân tích giảm từ 0,50% (2005) xuống 0,07% (2007) ($P < 0,0001$).
- Nghiên cứu trong nước: Đề tài của Nguyễn Thị Xuyên và cộng sự (2007-2008) so sánh 5 bệnh viện áp dụng ISO 9001-2000 với 4 bệnh viện chưa áp dụng, chỉ ra các cải thiện về quy trình và sự hài lòng nhưng còn hạn chế trong việc phân lập tác động độc lập của công cụ ISO và độ đại diện mẫu.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào chuyên môn y tế thuần túy, đánh giá việc áp dụng một mô hình quản lý đơn lẻ (như ISO hoặc TQM) tại một vài cơ sở, hoặc nghiên cứu quản lý nhà nước ở các phân khúc hẹp (điều dưỡng, cán bộ sau đại học). Luận án của Cao Hưng Thái định vị khoảng trống cần giải quyết là:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập dưới góc độ Quản lý hành chính công.
- Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước cấp Trung ương gắn liền với thực tiễn triển khai Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện tại toàn bộ 37 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp giữa quản lý nhà nước và quản trị nội bộ bệnh viện trong điều kiện thực hiện tự chủ bệnh viện công lập tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm sử dụng
- Khái niệm bệnh viện: Luận án tổng hợp định nghĩa của WHO, Nguyễn Thị Xuyên và đưa ra định nghĩa: Bệnh viện là cơ sở KCB có hạ tầng, trang thiết bị tối thiểu đạt chuẩn; có nhân lực được cấp chứng chỉ hành nghề phù hợp; được cấp giấy phép hoạt động; có bộ máy quản lý điều hành để tổ chức hoạt động KCB, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân, kết hợp dự phòng, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến và hợp tác quốc tế.
- Phân loại bệnh viện: Theo chức năng (đa khoa, chuyên khoa); theo năng lực điều trị (hạng đặc biệt, hạng I, II, III, IV); theo tuyến địa bàn (Trung ương, tỉnh, huyện); theo sở hữu (công lập, ngoài công lập); theo mức độ cải cách quản lý theo Ngân hàng Thế giới (hưởng thụ ngân sách theo dự toán, tự chủ, tự trị, tư nhân).
- Khái niệm chất lượng KCB: Tác giả kế thừa các lý thuyết quản lý chất lượng của W. Edwards Deming, Joseph Juran, Philip Crosby (nguyên lý "không có sai lỗi - zero defects"), Armand Feigenbaum, Kaoru Ishikawa, GOST 15467-70, JIS, ISO 9000; các tiếp cận chất lượng y tế của Donabedian A. (cấu trúc - quy trình - kết quả), Christian Grönroos (chất lượng vận hành và chất lượng chuyên môn), John Øvretveit, và WHO. Luận án xác lập 6 tiêu chí cốt lõi của chất lượng KCB:
- An toàn: Giảm thiểu rủi ro và tổn hại cho người bệnh.
- Hiệu quả: Cung cấp dịch vụ dựa trên bằng chứng khoa học, nâng cao sức khỏe người bệnh.
- Lấy người bệnh làm trung tâm: Tôn trọng nhu cầu, nguyện vọng và đặc điểm văn hóa của người bệnh.
- Kịp thời: Cung cấp dịch vụ đúng lúc, giảm thiểu thời gian chờ đợi.
- Hiệu suất: Tối ưu hóa nguồn lực, tránh lãng phí.
- Công bằng: Đảm bảo chất lượng dịch vụ không phân biệt giới tính, dân tộc, địa vị kinh tế - xã hội.
- Mô hình và phương pháp quản lý chất lượng: Nghiên cứu phân tích các mô hình TQM, tiêu chuẩn ISO (ISO 9001, ISO 15189), tiêu chuẩn JCI, Lean, 6 Sigma và chu trình PDCA/PDSA.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử với các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo tổng kết của ngành y tế, các số liệu thống kê trong nước và quốc tế.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát thực trạng quản lý chất lượng gửi đến toàn bộ 37 bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế. Dữ liệu thu thập được xử lý và phân tích thống kê bằng phần mềm Stata 12.
- Phương pháp phỏng vấn chuyên gia (trưng cầu ý kiến): Phỏng vấn sâu các thành viên hội đồng kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện tại các bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế nhằm kiểm chứng và bổ sung các nhận định định lượng.
| Thuộc tính phương pháp |
Nội dung cụ thể trong luận án |
| Phương pháp luận |
Phép biện chứng duy vật, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng về y tế |
| Thu thập dữ liệu định lượng |
Điều tra bằng bảng hỏi tại 37 bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế |
| Phần mềm xử lý thống kê |
Stata phiên bản 12 |
| Thu thập dữ liệu định tính |
Phỏng vấn trưng cầu ý kiến thành viên Hội đồng kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện |
| Nguồn dữ liệu thứ cấp |
Báo cáo Bộ Y tế, Niên giám thống kê y tế 2011-2016, số liệu Cục Quản lý Khám, chữa bệnh |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 tổng hợp các nghiên cứu trong và ngoài nước về quản lý chất lượng y tế. Tác giả phân tích các bài học quốc tế về quản lý chất lượng từ các nước phát triển (Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản) và các nước ASEAN (Thái Lan, Malaysia, Singapore), nơi đã chuẩn hóa dịch vụ y tế qua ISO và JCI.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước năm 2012 cho thấy việc áp dụng QLCL còn mang tính tự phát. Nghiên cứu năm 2012 của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh tại 200 bệnh viện thuộc 21 tỉnh/thành phố chỉ ra:
| Chỉ số triển khai QLCL năm 2012 |
Tỷ lệ ghi nhận |
| Bệnh viện dự kiến xây dựng kế hoạch chất lượng trong 2 năm tới |
82% |
| Bệnh viện thực tế đã có kế hoạch chất lượng |
9% (Hạng I: 29%, Hạng II: 12%, Hạng III: 2%, Hạng IV: 0%) |
| Bệnh viện có xây dựng mục tiêu cải thiện chất lượng |
21% |
| Bệnh viện có đề án, chương trình về chất lượng |
5% (Hạng I: 11%, Hạng II: 10%) |
| Bệnh viện có chính sách về chất lượng |
4% |
Chương này khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một nghiên cứu toàn diện về quản lý hành chính công đối với chất lượng KCB tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở khoa học về quản lý chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện công lập
Chương 2 hoàn thiện khung lý thuyết về vai trò của bệnh viện công lập và nội dung quản lý chất lượng:
- Vai trò chủ đạo của bệnh viện công: Thực hiện an sinh xã hội, bảo đảm mọi người dân đều được tiếp cận dịch vụ KCB; thiết lập chuẩn mực chuyên môn và là nơi thử nghiệm các chính sách y tế của Nhà nước.
- Nội dung quản lý nhà nước về chất lượng KCB: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, chính sách, quy chuẩn kỹ thuật; cấp giấy phép hoạt động (GPHĐ) và chứng chỉ hành nghề (CCHN); thanh tra, kiểm tra, giám sát chất lượng; xây dựng và chỉ đạo áp dụng Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực quản lý chất lượng.
- Nội dung quản trị chất lượng tại bệnh viện: Thiết lập bộ máy chuyên trách QLCL; xây dựng chính sách, kế hoạch và quy trình chuyên môn; triển khai an toàn người bệnh và báo cáo sự cố y khoa; đo lường sự hài lòng của người bệnh và nhân viên y tế; áp dụng các công cụ quản lý như 5S, Lean, ISO, PDCA.
Chương 3: Thực trạng quản lý chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện công lập Việt Nam
Chương 3 phân tích số liệu thực trạng giai đoạn 2011-2016 dựa trên cơ sở dữ liệu y tế quốc gia và khảo sát 37 bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế:
| Phân loại cơ sở y tế |
Số lượng cơ sở (năm 2016) |
Tỷ lệ (%) |
Số giường bệnh (năm 2016) |
Tỷ lệ (%) |
| Bệnh viện công lập |
1.252 |
88% |
239.544 |
95% |
| Bệnh viện ngoài công lập |
172 |
12% |
13.056 |
5% |
| Tổng cộng |
1.424 |
100% |
252.600 |
100% |
Chương này đánh giá các mặt đạt được và bất cập:
- Thành tựu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật từng bước hoàn thiện (Luật KCB 2009, Thông tư hướng dẫn quản lý chất lượng, Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện gồm 83 tiêu chí); các bệnh viện Trung ương đã thành lập Phòng/Tổ Quản lý chất lượng; chất lượng KCB và tinh thần thái độ phục vụ có cải thiện.
- Hạn chế: Năng lực nhân lực làm công tác QLCL còn thiếu tính chuyên nghiệp; kinh phí dành cho QLCL còn eo hẹp; việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý bệnh viện chưa đồng bộ; một số tiêu chí đánh giá chất lượng chưa thực sự phù hợp với từng tuyến; tình trạng quá tải cục bộ ở các bệnh viện tuyến cuối vẫn tiếp diễn.
Chương 4: Định hướng và giải pháp quản lý chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện công lập Việt Nam
Dựa trên quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về đổi mới cơ chế hoạt động ngành y tế, chương 4 đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp quản lý nhà nước (Bộ Y tế và các cơ quan quản lý):
- Hoàn thiện khung pháp lý về quản lý chất lượng KCB, rà soát sửa đổi Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
- Đổi mới phương thức đánh giá, kiểm tra chất lượng bệnh viện; tiến tới thành lập tổ chức kiểm định chất lượng y tế độc lập.
- Hoàn thiện cơ chế tài chính y tế, đổi mới giá dịch vụ KCB gắn liền với chất lượng phục vụ và lộ trình BHYT toàn dân.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và công khai kết quả đánh giá chất lượng bệnh viện để người dân giám sát.
- Nhóm giải pháp tại các bệnh viện công lập:
- Củng cố và nâng cao năng lực hệ thống quản lý chất lượng nội bộ; chuẩn hóa các quy trình chuyên môn và phác đồ điều trị.
- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (bệnh án điện tử, quy trình khám bệnh tự động).
- Tăng cường kiểm soát an toàn người bệnh, thiết lập hệ thống báo cáo sự cố y khoa không xử phạt nhằm khuyến khích phát hiện và sửa lỗi.
- Đầu tư phát triển nguồn nhân lực và gắn kết quả QLCL với thi đua, khen thưởng, đãi ngộ viên chức y tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ khái niệm bệnh viện, chất lượng KCB và quản lý chất lượng KCB của bệnh viện công lập từ góc độ khoa học quản lý hành chính công.
- Xác định và luận giải cấu trúc 6 tiêu chí chất lượng KCB (An toàn, Hiệu quả, Lấy người bệnh làm trung tâm, Kịp thời, Hiệu suất, Công bằng) trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.
- Phân tích làm rõ hai mặt thống nhất của quản lý chất lượng KCB: chức năng quản lý nhà nước của cơ quan quản lý vĩ mô và chức năng quản trị nội bộ của cơ sở y tế công lập.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Khắc họa bức tranh thực trạng về năng lực quản lý chất lượng tại 37 bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế thông qua điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn chuyên gia, xử lý số liệu bằng phần mềm Stata 12.
- Chỉ ra những rào cản thực tế trong việc áp dụng Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện Việt Nam, phản ánh sự thiếu hụt về nguồn lực chuyên trách và tài chính cho công tác chất lượng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính khả thi, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Y tế, Cục Quản lý Khám, chữa bệnh) trong việc hoàn thiện chính sách y tế và cơ chế tự chủ bệnh viện.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn về nguồn lực và thời gian, phạm vi khảo sát thực nghiệm của luận án tập trung chủ yếu vào cấp quản lý nhà nước Trung ương và khối 37 bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế, chưa khảo sát sâu toàn bộ hệ thống bệnh viện công lập tuyến tỉnh, huyện và các cơ sở y tế ngoài công lập.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất lượng tại các bệnh viện công lập tuyến tỉnh, tuyến huyện; nghiên cứu chuyên sâu về mô hình cơ quan kiểm định chất lượng y tế độc lập tại Việt Nam và cơ chế thanh toán BHYT dựa trên chất lượng dịch vụ.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng:
- Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý: Bộ Y tế, Sở Y tế các tỉnh/thành phố trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện Bộ tiêu chí chất lượng và đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện.
- Lãnh đạo và cán bộ quản lý bệnh viện: Ban Giám đốc, Phòng Quản lý chất lượng tại các bệnh viện công lập tham khảo để thiết lập mô hình quản lý, cải tiến quy trình KCB và phòng ngừa sự cố y khoa.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Thuộc các chuyên ngành Quản lý hành chính công, Quản lý y tế, Chính sách công tại Học viện Hành chính Quốc gia, Đại học Y Hà Nội, Đại học Y Dược TP.HCM và các cơ sở đào tạo liên quan.
Câu hỏi thường gặp
1. Tác giả luận án là ai và công tác tại đơn vị nào trong thời gian thực hiện nghiên cứu?
Tác giả luận án là Cao Hưng Thái, công tác tại Cục Quản lý Khám, chữa bệnh - Bộ Y tế, hoàn thành luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công tại Học viện Hành chính Quốc gia năm 2019.
2. Bệnh viện công lập chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong hệ thống cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh tại Việt Nam theo số liệu của luận án?
Tính đến ngày 31/12/2016, bệnh viện công lập có 1.252 cơ sở, chiếm 88% tổng số bệnh viện (1.424 bệnh viện) và chiếm 95% tổng số giường bệnh cả nước (239.544 / 252.600 giường). Hơn 91% lượt KCB ngoại trú và trên 95% điều trị nội trú diễn ra tại bệnh viện công.
3. Luận án xác định chất lượng khám chữa bệnh bao gồm những tiêu chí cốt lõi nào?
Chất lượng KCB được cấu thành từ 6 tiêu chí: An toàn, Hiệu quả, Người bệnh là trung tâm, Kịp thời, Hiệu suất và Công bằng.
4. Khảo sát thực nghiệm của luận án được thực hiện trên tập mẫu nào và sử dụng công cụ phân tích gì?
Nghiên cứu sinh thiết kế phiếu điều tra khảo sát tại toàn bộ 37 bệnh viện Trung ương trực thuộc Bộ Y tế, xử lý dữ liệu bằng phần mềm Stata 12 và kết hợp phỏng vấn sâu các thành viên hội đồng kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện.
5. Kết quả khảo sát năm 2012 của Cục Quản lý Khám, chữa bệnh được luận án trích dẫn phản ánh điều gì về kế hoạch chất lượng của các bệnh viện?
Tại thời điểm năm 2012, dù có 82% bệnh viện dự kiến xây dựng kế hoạch chất lượng trong 2 năm tới, nhưng thực tế chỉ có 9% bệnh viện đã có kế hoạch chất lượng (bệnh viện hạng I: 29%, hạng II: 12%, hạng III: 2%, hạng IV: 0%); chỉ 5% xây dựng đề án chất lượng và 4% có chính sách chất lượng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Cao Hưng Thái đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất lượng KCB tại hệ thống bệnh viện công lập Việt Nam dưới góc độ quản lý hành chính công. Bằng phương pháp kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, điều tra bảng hỏi tại 37 bệnh viện Trung ương và phỏng vấn chuyên gia, công trình đã phản ánh toàn diện thực trạng triển khai quản lý chất lượng và áp dụng Bộ tiêu chí đánh giá bệnh viện. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho quá trình hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân.